Đình Cấn Hạ
Giới thiệu
Đình Cấn Hạ xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 4525/QĐ-UBND ngày 12/10/2012 của UBND thành phố Hà Nội
PHÂN LOẠI DI TÍCH
1. Loại hình di tích.
Đình Cấn Hạ là một công trình kiến trúc tín ngưỡng thờ Tam vị Đại vương là Thành hoàng bản thố, Đệ nhất Trung Á và Đệ nhị Trung Á -tướng của Hai Bà Trưng. Căn cứ các tiêu chí xếp loại di tích tại điều 28 Luật Di sản văn hóa và điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, xét theo giá trị nồi bật, đình Cấn Hạ xếp vào loại hình di tích Lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật.
2. Niên đại xây dựng.
- Theo các cụ cao niên làng Cấn Xá Hạ (nay là Cấn Hạ) kể thì đình Cấn Hạ được làm từ thời Lê. Vào thời ây, đình làng tọa lạc trên gò đất cao trước làng (gọi là Gò Chợ), lưng tựa vào Đồng Vôi, phía trước dòng Tích Giang uốn lượn. Đến đời vua Tự Đức đình Cấn Hạ bị Pháp đốt phá, sau đó được phục dựng lại với quy mô nhỏ hơn. Đình làng được xây bằng đá ong gồm 3 tòa kiến trúc chính gồm Đại đình (Đại bái), Trung cung và Hậu cung, ngoài ra hai bên đình còn có Tả hữu mạc. Tòa Đại đình khá bề thế với kết cấu 3 gian 2 đĩ với bốn mái đao cong, hệ thống cửa bức bàn, chân cột kê tảng đá xanh, gian bên và gian dĩ của đình được khác ở Cấn Hữu như đỉnh Cần Thượng, đình Thượng Khê, đinh Đĩnh Tá là những di tích cổ kính đã được nhà nước xếp hụng. Truyền thuyết về các vị thần Áy có nhiều dị bản. Cần cứ theo tư liệu đo Ban khánh tiết đình Cấn Hạ cung cấp thì lai lịch, hành trạng của Tam vị thần trên có thể được tổm tất như sau:
Trái qua 18 đời Hùng Vương xây dựng cơ đồ, vua Hàng truyền ngồi cho Thục An Dương Vương được mấy chục năm thỉ nước Nam bí phương Bắc đô hộ. Vào thời nhà Hán cai trị nước ta ở làng An Tràng, huyện Lương Giang, phú Thiệu Thiên, đường Thanh Hoa có ông họ Đặng, tên là Quang vốn là con nhà gia giáo, lại có tiếng về nho học. Ông đến làng Kinh Xá (sau đổi là làng Cần Xá), huyện Ninh Sơn, phủ Quốc Oai, đường Sơn Tây làm thầy dạy học. Sau đó mẫy năm thì ông lấy vợ là bà Bạch Thị Trọng. Vợ chồng ông hiền hòa thường làm việc thiện nhưng hiềm nỗi tuổi đã cao mà chưa có con. Báy giờ ở làng Kinh Xá Hạ có một ngôi đèn thiêng rất linh ứng, một hôm ông bà liền sắm lễ vật đến đèn làm lễ cầu tự. Đêm hôm ấy vợ chồng ông ngủ tại đền mộng thấy một người khoác áo đỏ xưng là quan thổ thần. Ngài bảo rằng trời đã soi xét sau này vợ chồng ông sẽ sinh đôi nam tử vốn là thần linh dầu thai để giúp nước. Khi trời sáng, vợ chồng ông bái tạ ra về. Vừa đến đầu làng Cần Xá thì có một đám mây lành bay tới sà xuống bà Bạch Thị, làm cho tối tăm mù mịt, trời đang ban ngày mà như ban đêm.
Vợ chồng ông sợ quá chạy vào trong miếu cầu xin thì tự nhiên có ánh hào quang loé trên người bà vợ khiến bà thiếp đi. Bà chợt mộng thấy hai nam tử bên đường theo đến xưng là Linh tướng quan phụng mệnh thiên đình giáng sinh đầu thai làm con một vùng ở hạ giới. Từ đấy bà Bạch Thị có thai. Đến giờ Ngọ, ngày 20 tháng 5 năm Nhâm Ng9 bà sinh ra một cái bọc có hai người con trai rất giống nhau khôi ngô tuấn tú. Ông bà đặt tên cho hai con trai là Đệ Nhất Trung Á và Đệ Nhị Trung Á. Khi hai ông lên 7 tuổi, văn học đã tinh thông, tài trí võ nghệ hơn người. Đến năm hai ông 16 tuổi không may bố mẹ đều qua đời. Hai ông bèn chọn nơi đất tốt, làm lễ an táng, đèn nhang thờ phụng theo đúng nghi lễ hết 3 năm mãn tang. Hai ông noi theo nghiệp học của cha làm nghề thầy giáo được sỹ tử các nơi đến học rất đông. Đình Cấn Hạ cũng là một trong những ngôi đình thuộc thôn Cần Hạ phụng thờ vị thành hoàng là tướng còn Hai Bà Trưng.
PHÂN LOẠI DI TÍCH
1. Loại hình di tích.
Đình Cần Hạ là một công trình kiến trúc tín ngưỡng thờ Tam vị Đại vương là Thành hoàng bản thố, Đệ nhất Trung Á và Đệ nhị Trung Á -tướng của Hai Bà Trưng. Căn cứ các tiêu chí xếp loại di tích tại điều 28 Luật Di sản văn hóa và điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, xét theo giá trị nồi bật, đình Cấn Hạ xếp vào loại hình di tích Lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật.
2. Niên đại xây dựng.
- Theo các cụ cao niên làng Cần Xá Hạ (nay là Cần Hạ) kể thì đình Cấn Hạ được làm từ thời Lê. Vào thời ây, đình làng tọa lạc trên gò đất cao trước làng (gọi là Gò Chợ), lưng tựa vào Đồng Vôi, phía trước dòng Tích Giang uốn lượn. Đến đời vua Tự Đức đình Cấn Hạ bị Pháp đốt phá, sau đó được phục dựng lại với quy mô nhỏ hơn. Đình làng được xây bằng đá ong gồm 3 tòa kiến trúc chính gồm Đại đình (Đại bái), Trung cung và Hậu cung, ngoài ra hai bên đình còn có Tả hữu mạc. Tòa Đại đình khá bề thế với kết cấu 3 gian 2 đĩ với bốn mái đao cong, hệ thống cửa bức bàn, chân cột kê tảng đá xanh, gian bên và gian dĩ của đình được khác ở Cần Hữu như đỉnh Cần Thượng, đình Thượng Khê, đinh Đĩnh Tá là những di tích cổ kính đã được nhà nước xếp hụng. Truyền thuyết về các vị thần có nhiều dị bản. Căn cứ theo tư liệu do Ban khánh tiết đình Cấn Hạ cung cấp thì lai lịch, hành trạng của Tam vị thần trên có thể được tổm tất như sau:
Trái qua 18 đời Hùng Vương xây dựng cơ đồ, vua Hàng truyền ngồi cho Thục An Dương Vương được mấy chục năm thỉ nước Nam bí phương Bắc đô hộ.
Vào thời nhà Hán cai trị nước ta ở làng An Tràng, huyện Lương Giang, phú Thiệu Thiên, đường Thanh Hoa có ông họ Đặng, tên là Quang vốn là con nhà gia giáo, lại có tiếng về nho học. Ông đến làng Kinh Xá (sau đổi là làng Cần Xá), huyện Ninh Sơn, phủ Quốc Oai, đường Sơn Tây làm thầy dạy học. Sau đó mẫy năm thì ông lấy vợ là bà Bạch Thị Trọng. Vợ chồng ông hiền hòa thường làm việc thiện nhưng hiềm nỗi tuổi đã cao mà chưa có con. Báy giờ ở làng Kinh Xá Hạ có một ngôi đèn thiêng rất linh ứng, một hôm ông bà liền sắm lễ vật đến đèn làm lễ cầu tự. Đêm hôm ấy vợ chồng ông ngủ tại đền mộng thấy một người khoác áo đỏ xưng là quan thổ thần. Ngài bảo rằng trời đã soi xét sau này vợ chồng ông sẽ sinh đôi nam tử vốn là thần linh dầu thai để giúp nước. Khi trời sáng, vợ chồng ông bái tạ ra về. Vừa đến đầu làng Cần Xá thì có một đám mây lành bay tới sà xuống bà Bạch Thị, làm cho tối tăm mù mịt, trời đang ban ngày mà như ban đêm. Vợ chồng ông sợ quá chạy vào trong miếu cầu xin thì tự nhiên có ánh hào quang loé trên người bà vợ khiến bà thiếp đi. Bà chợt mộng thấy hai nam tử bên đường theo đến xưng là Linh tướng quan phụng mệnh thiên đình giáng sinh đầu thai làm con một vùng ở hạ giới.
Từ đấy bà Bạch Thị có thai. Đến giờ Ngọ, ngày 20 tháng 5 năm Nhâm Ng9 bà sinh ra một cái bọc có hai người con trai rất giống nhau khôi ngô tuấn tú. Ông bà đặt tên cho hai con trai là Đệ Nhất Trung Á và Đệ Nhị Trung Á. Khi hai ông lên 7 tuổi, văn học đã tinh thông, tài trí võ nghệ hơn người. Đến năm hai ông 16 tuổi không may bố mẹ đều qua đời. Hai ông bèn chọn nơi đất tốt, làm lễ an táng, đèn nhang thờ phụng theo đúng nghi lễ hết 3 năm mãn tang. Hai ông noi theo nghiệp học của cha làm nghề thầy giáo được sỹ tử các nơi đến học rất đông.
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA, KHOA HỌC, THẨM MỸ CỦA DI TÍCH:
Về giá trị lịch sử:
Đình Cấn Hạ thờ tam vị thành hoàng làng là Thành hoàng bản thổ, Đệ Nhất Trung Á và Đệ Nhị Trung Á là nhị vị tướng quân của Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mùa xuân năm 40 đã đánh đuổi quân Tô Định thu hồi 65 thành trì, Hai Bà Trưng được suy tôn lên làm vua đã để lại một dấu ấn chối lọi trong lịch sử đầu tranh chống giặc giữ nước của dân tộc ta. Các vị tướng của Hai Bà đã được lưu truyền dưới nhiều hình thức lịch sử, truyền thuyết, dân gian. Đình Cấn Hạ góp phần phong phú thêm hệ thống các ngôi đình thờ tướng Hai Bà Trưng• Truyền thống kiên cường bất khuất đầu tranh chống giặc ngoại xâm giữ gìn mảnh đất quê hương, đất nước được luôn được hun đúc, nối tiếp về sau. Theo thống kê của UBND xã Cần Hữu trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, bảo vệ biên giới của Tổ quốc xã Cấn Hữu có 185 liệt sĩ ngã xuống; hàng trăm các thương binh, bệnh binh; 4 bà mẹ được Nhà nước trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và tặng nhiều Huân, Huy chương các loại.
Về giá trị nghệ thuật:
Xét tổng thể kiến trúc đình Cần Hạ có phần khiêm tốn nhưng đến nay ngôi đình vẫn bảo lưu được những yếu tố kiến trúc cổ truyến thống. Toà Hậu cung với kết cấu hai tầng 4 mái, lợp ngói mũi hài cổ mang những đặc trưng nghệ thuật thế kỷ XIX. Ngoài ra, di tích còn lưu giữ được những di vật quý như sắc phong, bệ đá có niên đại thế kỷ XVIII - XIX góp phần tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của đình Cấn Hạ.
Về giá trị văn hoa, khoa học:
Cần Hữu là một trong những xã của Quốc Oai có nhiều di tích cổ kính có niên đại trải từ thời Lê đến thời Nguyễn. So với huyện Quốc Oai thì số lượng di tích được xếp hạng của Cấn Hữu (8 di tích) chỉ đứng sau xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai.
Đình Cấn Hạ trước kia cũng là ngôi đình khá bề thế, vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1948 thực hiện tiêu thổ kháng chiến đình phải tháo dỡ phần đại đình. Đến nay ngôi đình đã được tu bổ tôn tạo lại, kiến trúc tuy không còn được như xưa nhưng đình Cấn Hạ vẫn là niềm tự hào của người dân nơi đây. Cũng như bao ngôi đình Bắc Bộ đất Việt, đình Cấn Hạ được sử dụng làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư thôn Cấn Hạ. Người dân đến đình kính cẩn lễ Thần cầu mong thần phù hộ làm ăn mưa thuận gió hòa, tài lộc, bình an.



