Thôn Đinh Xuyên được hình thành từ 2 làng Nam Dương và Đinh Xuyên của xã Hòa Nam cũ.
Làng Đinh Xuyên là nơi lưu giữ quần thể di tích lịch sử - văn hoá phong phú bao gồm đình và quán Đinh Xuyên, chùa Hưng Phúc cùng nhà thờ họ Nguyễn Thế là những công trình không chỉ mang giá trị kiến trúc nghệ thuật đặc sắc mà còn là nơi thờ phụng các vị Thành hoàng và danh nhân có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Các di tích Đình - Quán - Chùa thôn Đinh Xuyên đều là các di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia được xếp hạng theo Quyết định số 1057 ngày 14/6/1991 của Bộ Văn hoá.

Đình thôn Đinh Xuyên thờ 3 vị thành hoàng là Nguyễn Quang, Phạm Thông và Phạm Nhu.
1. Ngài Nguyễn Quang, sinh ngày 12 tháng 8 năm Bính thân (305 TCN) là người thông minh đức độ, văn võ song toàn. Đương thời nước Văn Lang có chiến tranh nhiều phía Nguyễn Quang cùng Tản Viên Sơn Thành luôn bên cạnh Hùng Duệ Vương chiến đấu kiên cường bảo vệ đất nước. Nguyễn Quang được Hùng Duệ Vương phong là "Hoàng tế Đại tướng quân". Với nhân dân Đinh Xuyên, ông là người hướng dẫn việc nông trang, rèn rũa phong tục.
2. Ngài Phạm Thông và Phạm Nhu, là hai anh em sinh đôi vào ngày 12 tháng 11 năm Bính Thân. Quê mẹ của hai ông ở Đinh Xuyên trang, nay là làng Đinh Xuyên, thôn Đinh Xuyên, xã Hoà Xá. Hai ông sớm có lòng yêu nước, căm thù nhà Hán xâm lược, đã tập hợp trai làng luyện quân rồi theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Trong cuộc chiến đấu anh dũng hai ông đã hy sinh giữa trận tiền nêu tấm gương trung liệt yêu nước.
Đình làng Đinh Xuyên có lịch sử xây dựng lâu đời. Đến năm Quý Hợi (1863) chuyển Đình từ khu đất bãi vào trong khu dân cư hiện nay. Ngôi Đình hiện tại có kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, nhiều tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ mang đặc trưng dân gian và 3 pho tượng thành Hoàng nghệ thuật điêu khắc cao.
Hai quán (Thương và Hạ) xây bằng chất liệu vôi gạch cuốn vòm mai cua trên mái lợp ngói. Dấu tích ghi nhận bãi tập quân của hai tướng Phạm Thông và Phạm Nhu.

1. Lịch sử nhân vật được thờ
Đình Đinh Xuyên thờ Tam vị Thành hoàng tên là: Nguyễn Quang, Phạm Thông và Phạm Nhu. Nhân dân trong thôn gọi ngài Nguyễn Quang là Đức Thánh Cả, Phạm thông là Đức thánh đệ Nhị và Phạm Nhu là Đức Thánh đệ Tam. Ba vị Đức Thánh được nhân dân Đinh Xuyên suy tôn làm Thành hoàng là những người có công danh huân liệt với đất nước. Lịch sử của các nhân vật được tóm tắt như sau:
Trong thần phả ghi rằng Hoàn Tổ Đại Vương Nguyễn Quang sinh ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (năm 305 trước Công Nguyên). Bố của Ngài họ Nguyễn, mẹ họ Đinh quê ở Lăng Xương Động, Gia Hưng huyện Hưng Hoá phủ, Sơn Tây đạo. Đến năm 16 tuổi, bố mẹ của ông đều mất, ông chôn cất bố mẹ, cư tang 3 năm rồi lên ở với Tản Viên Sơn Thánh. Nguyễn Quang được Sơn Thánh dạy văn võ tài lược.
Về sau có giặc tới xâm lược nước Văn Lang, Quang Công cùng Tản Viên giúp Hùng Duệ Vương đánh giặc. Quang Công lĩnh 10 vạn binh tiến vào Châu Ái. Đến Đinh Xuyên, ông chọn đây làm sở trú binh rồi truyền hịch đi khắp nơi mộ thêm được 7622 người cùng dân Đinh Xuyên cử thuỷ bộ, đại chiến một trận, quân giặc chết bao nhiêu không kể phải chạy về nước.
Với chiến công oanh liệt, Duệ Vương mở tiệc khao quân và phong tặng Mỹ Quang là "Hoàng tế đại tướng quân" Trấn giữ Sơn Nam đạo, giao toàn quyền trông nom, sử dụng quân hương phủ Ứng Thiên.
Nguyễn Quang về với nhân dân ông chăm lo đời sống sức dân; thăm nom, khuyến khích hướng dẫn việc nông trang. Về xã hội lấy điều nhân nghĩa để cấu kết nhân dân, và lây điều hoà mục để rèn mã phong tục. Ông được nhân dân kính mến. Đương thời nhân dân Đinh Xuyên xã xin được làm “Thần Tử” của Ngài được Hùng Duệ Vương phê chuẩn.
Khi Nguyễn Quang mất, nhân dân Đinh Xuyên vô cùng thương tiếc biểu hiện tấm lòng thành kính của mình, nhân dân dựng đền thờ, lập bài vị "Hoàng Tế Thông cảm đại vương" tôn đức Nguyễn Quang làm Thành hoàng. Đến thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên (1470) phong tặng mỹ tự "Hoàng Tế thông cảm Đức thánh linh ứng đại vương Thượng đẳng thần". Trải qua nhiều thời đại. Hoàng đế đều được các triều phong sắc, đến nay có tới 11 đạo sắc phong mỹ tự còn được lưu trữ tại Đình làng Đinh Xuyên.
Đình Đinh Xuyên thờ vị Hoàng Tế Đại Vương - Nguyễn Quang là nhân vật có thật trong lịch sử vào thời Hùng Vương đời thứ 18 đã có công giúp vua giữ yên bờ cõi nước Văn Lang, chống lại các cuộc tấn công của nhiều phía như An, Ai Lao, Hồ Tôn và trong đó có ngoại tộc Âu Việt.
b. Hai vị đức thánh đệ Nhị và đệ Tam: Phạm Thông và Phạm Nhu là hai anh em sinh đôi, con của ông Phạm Phương và bà Trần Thị Lan. Quê Nội ở Nhữ Xá, huyện Hồng Châu, Thanh Niệm, đạo Hắt Hưng. Quê ngoại ở Đinh Xuyên xã, Hoài An huyện, Ứng Thiên phủ. Hai ông Phạm Thông, Phạm Nhu sinh ngày 12 tháng 11 năm Bính Thân.
Vào những năm đầu Công Nguyên nước ta dưới sự đô hộ của nhà Hán, tên Thái thú Tô Định cai quản Giao Châu rất tàn bạo với nhân dân ta. Qua đó có hai nữ tướng dòng dõi Họ Hùng tên là Trưng phất cờ khởi nghĩa chống xâm lược nhà Hán.
Năm hai ông lên 3 tuổi gia đình gặp biến, hai anh em Thông và Nhu được cậu ruột là tướng công Trần Kiện đưa về quê ngoại nuôi dạy. Vốn ham hiểu biết và có chí, hai anh em học giỏi tinh thông văn võ. Lúc hai ông Thông và Nhu trưởng thành, nước ta bị giặc Đông Hán lộng hành lấn áp dân Việt. Thái Thú Giao Chỉ là Tô Định một kẻ tàn bạo, tham lam, dân Việt khắp nơi oán ghét căm thù ở nhiều nơi đã có phong trào nhân dân đấu tranh đánh giặc cứu nước. Hai ông Thông và Nhu đã tập hợp, chiêu tập được hơn một nghìn trai tráng ở Đinh Xuyên và các làng quanh vùng về quê luyện tập. Số người được chiêu mộ về, anh em chia làm hai và lập dinh đồn để chống giặc. Trong thần phả ở Đinh Đinh Xuyên ghi lại rằng số hiền tài này đã có tôn Phạm Thông là Lương Công Thông và Phạm Nhu là Nhu Nhị Thánh đi cùng quân sĩ ngày đêm luyện tập nuôi chí diệt thù. Hai ông đã ra lệnh cho quân sĩ xây dựng hai dinh đồn.
Thượng và Hạ. Qua khảo sát, cho thấy còn lại dấu vết cũ là hai cái Quán: Quán Thượng và Quán Hạ. Hai quán này được xây trên khu đất bằng phẳng. Quá phía đầu làng là nơi tập luyện quân sĩ của cánh quân ông Phạm Nhu, nhân dân gọi là quán Thượng, quán phía cuối làng là nơi tập luyện của cánh quân do ông Phạm Nhu chỉ huy, gọi là quán Hạ.
Vừa lúc đó, hai anh em nhận được hịch khởi nghĩa của hai Bà Trưng. Hai anh em lập tức đem nghĩa quân về cửa sông Hát dự hội thề. Hai Bà Trưng vô cùng mừng rỡ liền giao cho nhiệm vụ đánh thẳng vào Luy Lâu, trụ sở của Tô Định. Sau thắng trận Trưng Trắc lên ngôi vua phong cho hai tướng của mình là "Thông Thánh minh đại Vương và Nhu Thánh An định mưu khuông quốc đại Vương".
Sau ngày thắng trận, hai ông trở về đồn trại của mình cùng dân làng ra sức cấy cày để phòng quân giặc tới.
Bị thất bại nặng, quân Đông Hán lại dắp tâm xâm lược nước ta. Chúng cử Mã Viện tướng tiến quân vào Cửa Châu đàn áp nghĩa quân ở vùng này. Hai ông đã cùng Trưng Vương kề vai sát cánh chống giặc. Ngọc phả ghi rõ trong một trận quyết chiến không cân sức, Phạm Thông đã hy sinh anh dũng tại trận. Thấy anh nêu gương anh hùng vì nước, bản thân cũng bị hơn mười vết thương, Phạm Nhu rút gươm tự vẫn trước trận, cùng hai Bà Trưng nêu gương diệt thù cứu nước.
Với công lao giúp Trưng Vương đánh giặc cứu nước, triều Lê Hồng Đức (1470) đã phong sắc mỹ tự cho hai vị. Trải qua các triều Lê Mạc, Tây Sơn, Nguyễn đều phong sắc xác nhận hai anh em Phạm Thông, Phạm Nhu có công chống giặc nêu gương trung liệt.
Nhớ ơn công lao với dân với nước, nhân dân Đinh Xuyên, giữ nơi hai ông luyện quân lập đền thờ, lập Thành hoàng.
Trên miền đất nhỏ của Đinh Xuyên, ở thế đất vô cùng đẹp về thiên nhiên lại vô cùng quan trọng trong thế địa quân sự. Từ thời Hùng Vương nổi dậy để giữ vị trí chiến lược quan trọng. Đồng thời đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước. Đinh Xuyên nằm ngay bên bờ sông Đáy, sông công chảy từ miền cửa Hát Giang uốn lượn quê dải đồng bằng gấp khúc ở vùng Tế Tiêu và mở ra ở Đinh Xuyên nên nước quanh năm chảy xiết. Nơi đây đã diễn ra hai sự kiện quan trọng trên. Thông qua tư liệu khảo sát và hồ sơ khoa học này, sẽ bổ sung và góp phần nhỏ cho công trình nghiên cứu lịch sử thời buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Phát huy truyền thống yêu nước, bảo vệ độc lập dân tộc và lao động cần cù xây dựng quê hương đất nước, nhân dân Đinh Xuyên là con cháu của vua Hùng. Hai Bà Trưng, tướng Nguyễn Quang, Phạm Thông, Phạm Nhu luôn ghi nhớ công lao của nghìn xưa giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó. Uống nước nhớ nguồn đó là truyền thống và đạo lý của nhân dân Việt Nam, tinh thần huân liệt của Tam vị anh hùng luôn sống mãi với nhân dân Đinh Xuyên và cả nước. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắc nhở chúng ta: "Tưởng nhớ những người có công lớn trong việc dựng nước và giữ nước. Trong phạm vi một tập thể làng xóm bao gồm nhiều dòng họ nhiều gia đình, cũng như trong phạm vi cả nước, dân tộc Việt Nam ta... Từ đó giữ vững và phát huy những đức tính cổ truyền tốt đẹp lòng yêu nước tình đoàn kết, chí kiên cường bất khuất..." Trích bài nói chuyện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân ngày giỗ tổ Vua Hùng mùng 10 tháng 3 năm 1969.

Đình Đinh Xuyên có kiến trúc nghệ thuật kiểu chữ nhị (=) gồm có hai công trình chính là Đại bái và Hậu cung, ngoài ra còn có các công trình phụ: Tả - Hữu vu phía trong khoảng giữa nối Đại bái và Hậu Đình, phía ngoài có hai dãy nhà Giải vũ.
Ngôi Đình nằm sát đê Đáy ở phía Đông, xung quanh là khu dân cư, phía Bắc giáp xóm Tứ Đức, phía Nam giáp xóm Ngũ Phúc. Trước những năm sáu mươi của thế kỷ XX, còn có công trình làm theo kiểu Tam quan bề thế, có trụ lồng đèn và trang trí nghệ thuật long, mã, hoa dành... bằng vôi vữa đắp nổi rất đẹp. Hiện nay, công trình không còn, trước cửa Đình được xây tường bao bảo vệ, có lối vào nhỏ. Đình ngoảnh hướng Tây, nằm trên thế đất Thị cấn hướng khôn. (Theo biểu tượng vũ trụ quan sinh học - bát quái kiến, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài).
a. Toà Đại bái:
Có diện tích xây dựng 187m², chia 5 gian có 4 vì kèo 4 cột chính bằng gỗ quý, hai cột hiên bằng đá được gia công khéo hình vuông đục chạm đường gờ, hoa văn và ghi tên tổ chức hương xã, cá nhân cung tiến. Cột gỗ có bệ đá kê chân hình lòng trụ, hình vuông. Trước kia các cửa ra vào làm cánh cửa bức bàn ở phía tiền và hậu, do bị hư hỏng nên nhân dân bịt cửa hai gian giáp đốc hồi, để cửa ở 39 tam chính.
Miêu tả kiến trúc nghệ thuật ngôi Đình Đinh Xuyên có kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn biểu hiện quý những tác phẩm sau:
+ Phần kết cấu các vì kèo
Ở hai vì chắt gian giữa chạy kiểu kiến trúc chồng rường tiến trụ, có đấu vuông thót đáy rõ, cốn và bẩy hiên. Ở hai vì gian bên chồng rường để đội thượng lương, cốn, và hệ thống kẻ chuyền xuống bẩy hiên. Về mặt kết cấu của vì kèo giữa chồng rường, kẻ chuyền bẩy kiểu được nâng đỡ bởi cột, Thượng lương, và các xà, hoành.. Hệ thống cột đều xẻ đầu cột cái để lòng quá giang. Thượng lương, kẻ chuyền, có lỗ đục ghép xà ngang liên kết giữa các vì kèo. Đây là đặc điểm khác với ngôi Đình thời Lê là đầu trụ bó kê đến vuông thót đáy đặt cân đều.
Mỗi vì kèo là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ trên hai vì giữa tập trung nhiều tác phẩm tiêu biểu thời Nguyễn. Ở đấu rường của mỗi tầng đều có trang trí hoa văn mơ tếp cành lá hoá mây có hai dạng vân: mây soán đối xứng tạo hoa, dạng lá mây thành dải mềm. Nghệ thuật bong gọt tuy không kỹ càng nhưng khá cầu kỳ. Phần vì giáp hiên, phát hiện một vài dấu có chạm bong loại lá hoa đối xứng mang dáng dấp của Lê đẹp mắt làm cho vì kèo khoẻ nhưng rất mềm.
Trên tầng kẻ chuyền phần đấu cũng có đường chỉ bong bào nhẵn, uốn độ cong mềm cho ăn nhập với bẩy hiên. Đầu bẩy đều trang trí lá bong mềm.
Làm theo kiểu chữ Nhất (-) diện tích xây dựng 56m2. Xung quanh xây gạch, cuốn vòm mai cua phần hiên làm chồng rường cốn trang trí. Nghệ thuật trang trí ở 5 bức cốn ở hiên thấy được 5 tác phẩm nghệ thuật đa dạng của đương thời, cụ thể:
- Bức cốn thứ nhất: là tác phẩm long vân rồng bay trong mây, đuôi soán quạt, lãng đãng có lân nghê rất ngộ là đầu.
- Bức cốn thứ hai: chữ đạn miêu tả tích ngư lang, cá hoá rồng, ở trên đầm sen; bông sen đẹp đang nở có hai chú chim chích bông nhỏ bé đùa trên đài sen, cạnh đó có loài thú đầu chuột, thân chim, cánh dơi, đuôi của nó tạo mây xoắn như rồng.
- Bức thứ ba: có long cuốn thuỷ, cá hoá long, con lân đấu hình rồng, mình ngựa có yên cương. Đặc biệt phía dưới là cây cổ thụ, dưới gốc có hai chú hươu sao nghịch ngồi đùa giỡn với nhau.
- Bức cốn thứ tư và thứ năm: có các loài vật rồng, cá, phượng đang dang cánh bay, lân...
- Bức cốn thứ sáu: trang trí long chạm cảnh tứ linh long ly quy phượng. Con rùa biểu hiện sự trường tồn, ở tác phẩm này lộ nguyên hình và vươn dài chiếc cổ ngó các bạn của mình trong cảnh mây trời xanh và nước biếc.
Tóm lại: Các bức cốn của vì hiên Hậu cung là nghệ thuật chạm khắc gỗ thời Nguyễn điển hình mang đậm màu sắc dân gian. Người nghệ nhân với cuộc sống thường, nghệ thuật của Đình Chung nơi tôn nghiêm thờ thần tối linh của cộng đồng làng xã, được đưa lại gần gũi với nhân dân.
c. Một số tác phẩm nghệ thuật trên các di vật
Ba pho tượng Thành hoàng: Vị Đức Thánh Cả và đức Thánh đệ Nhị, đức Thánh đệ Tam là những tác phẩm nghệ thuật tạc tượng khá tiêu biểu của thời Nguyễn. Tượng ở tư thế ngồi trong ngai thờ có tay đầu rồng. Nghệ thuật pho tượng, mặt hiện mô phỏng tượng phật, tai to, mắt sáng thân mặc áo long bào có chạm khắc rồng trên áo, đầu đội mũ cánh mềm. Tượng ở tư thế ngồi, chân gối vuông, một tay chống gối cầm hốt. Những chi tiết như rồng đuôi xoắn cánh quạt, mây, lá, văn vuông, trán... tạo cho pho tượng lộng lẫy, hấp dẫn gần gũi chúng ta nhưng lại rất uy nghiêm thâm trung trong thần học.
Ngoài ra còn một số tác phẩm như kiệu song loan, bát bửu kim cương, hoành phi, án gian... đều chạm khắc những mảng nghệ thuật có rồng, phượng, lân, hồ phù hoa dây, lá cúc văn khắc vạch chữ Vạn hiện nhà phật... đây là những tác phẩm nghệ thuật của thời Nguyễn sớm, muộn kế thừa nhau.
Đinh Xuyên mảnh đất cổ có cư dân quân tụ đến nay để hàng ngàn năm bằng lao động cần cù và lòng dũng cảm của nhân dân đã lập làng, bảo vệ quê hương, sản xuất, xây dựng các công trình văn hoá làng xã trong đó có ngôi Đình là một "Nhà văn hoá" của làng xã Việt Nam trước đây.

Đình Đinh Xuyên có từ lâu đời. Theo các cụ lão thành của làng kể lại thì ngôi Đình cổ ở bên cánh bãi trước làng, giáp chiền sông Đáy.
Nguyên sơ của nó làm bằng gỗ, mái lợp tranh. Qua nhiều đời, Đình có làm lại nhiều lần. Bóng dáng của ngôi Đình đó còn trong trí thức dân gian và đôi câu đối của Đình:
Vạn cổ phòng công tịnh ngọ sơn.
Dịch nghĩa: - Một ngôi nhà nghìn năm trước dòng nước Đinh (sông Đáy).
- Muôn đời đầu đứng trước núi Ngọ.

Qua những cứ liệu sử học, kiến trúc ta đã biết: Đình làng Việt Nam phát triển mạnh thời Lê Trung Hưng, trước đó Đình có quy mô nhỏ chưa hẳn nằm trong phạm trù văn hoá làng xã, bây giờ chỉ là nơi phổ biến chính lệnh của Triều Đình. Ngôi Đình cổ của làng Đinh Xuyên là có, công thoả mãn chức năng của nó. Sau này, ngôi Đình mới được dựng trên nền Đình hiện nay. Toà Đình to lớn, trang nghiêm có niên đại thời Nguyễn, qua khảo tả kiến trúc nghệ thuật: Hậu cung Đình kiến trúc kiểu vòm mai cua, đã ảnh hưởng lối kiến trúc gồ tích phương Tây. Chỉ có từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, thì yếu tố Gô tích sớm đến với công trình văn hoá. Trên câu đầu của Đình có ghi "Quý hợi mạnh thu tạo" bổ xung cho xác định năm Quý Hợi, dựa vào tấm hoành phi ghi "Vạn cổ phúc thán" khắc năm Tự Đức, Tân Mùi (1871) dựa vào cách tính Hội can của Quý Hợi cho ta xác định khá chính xác Đình Đinh Xuyên được xây dựng vào thời Nguyễn năm Quý Hợi (1863) niên hiệu Tự Đức 16.
4. Di tích Quán Thượng và Quán Hạ
Quán Thượng và Quán Hạ là - nơi tập luyện quân cơ của các ngài Phạm Thông và Phạm Nhu. Để tưởng niệm hai vi tướng và ghi nhận dấu tích, nhân dân Đinh Xuyên lập đền thờ, xây thành hai quán tưởng niệm. Đây là một công trình kiến trúc khá kiên cố kiểu thành luỹ. Quán xây bằng chất liệu vôi gạch. Quán Thượng có diện tích 24m2, quán Hạ có hai hạng mục: Hậu quán 40m2 và Đại bái 35m2.

Tường xây xung quanh có độ dày 80cm, như thành luỹ. Biểu tượng một cứ điểm quân sự. Thành bố trí 3 cửa ra vào, bên trong có bộ thờ hai vị tướng. Trần quán cuốn vòm, trên có lợp ngói - Nhìn phía ngoài tưởng như một công trình kiến trúc gỗ, khi vào phần kiến trúc thấy được sự thâm sâu của ý niệm dân ta muốn truyền cho mai sau biết được điển tích của hai vị thần được dân tộc thờ.


Công trình kiến trúc hiện tại là chứng cứ của vật chất, là di sản của bảo tàng giới thiệu cho nhân dân biết được tại đây là nơi cách chúng ta gần 2.000 năm đã diễn ra sự luyện quân của tổ tiên mình mài sắc gươm để chống quân xâm lược Nhà Hán. Nếu để mất di sản văn hoá này, khó mà chúng ta nói với thế hệ sau về truyền thống anh hùng mà tiền nhân đã xây bằng mồ hôi và xương máu giữ nền độc lập. Truyền thống ấy trải qua bao đời, trao cho thế hệ chúng ta, mà gìn giữ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Những di vật có giá trị về nghệ thuật và những đồ thờ còn bảo tồn được ở khu di tích này đã được thống kê qua đợt kiểm kê như sau:
- Cuốn Ngọc phả ghi sự tích ba vị Thành hoàng là Nguyễn Quang, Phạm Thông và Phạm Nhu do Nguyễn Bính Hàn Lâm Đông Các Đại Học Sĩ phụng soạn vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572).
- 3 pho tượng: Nguyễn Quang, Phạm Thông và Phạm Nhu được nhân dân Đinh Xuyên suy tôn làm Thành Hoàng và tạc vào thời Nguyễn.
- 1 con rùa đá.
- 1 chiếc hoành phi.
- 10 chiếc bình hương.
- 2 chiếc mâm bóng gỗ.
- 3 chiếc lọ lục bình sứ.
- 4 chiếc cây đèn thờ gỗ.
- 4 chiếc cây đài gỗ.
- 2 chiếc men rượu bành.
- 4 con hạc thờ bằng đồng.
- 1 chiếc kiệu song loan.
- 10 bộ bát bửu.
- 3 hòm đựng sắc gỗ.
- 22 sắc phong của các triều đại từ Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn.
* Đình Đinh Xuyên là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn còn được bảo lưu khá nguyên vẹn. Hiện nay vẫn còn giữ được các hạng mục công trình. Toà Đại bái, toà Hậu Đình, hai bên tả hữu vụ và một nhà dải vũ.
Hậu Đình đặt 3 pho tượng nghệ thuật là Thành hoàng của làng và có người thường xuyên chăm nom, đèn hương thờ Đức Thánh là đạo lý tốt đẹp của nhân dân địa phương, cũng như nhân dân Việt Nam nói chung.
* Quán Thượng - Quán Hạ còn nguyên khu xây dựng. Hai quán trong lịch sử ghi nhận là bãi tập của nghĩa quân.



Đình Đinh Xuyên là tác phẩm kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn khá tiêu biểu ở xã Hoà Xá còn được bảo tồn đến ngày nay. Ngôi Đình thờ 3 vị Thành hoàng Nguyễn Quang là ông tướng thời Hùng Vương giúp dân giữ yên bờ cõi nước Văn Lang và Phạm Thông, Phạm Nhu là tướng giỏi tham gia khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Nam Hán xâm lược nước ta. Việc bảo vệ giữ gìn công trình văn hoá và lưu truyền trang sử thơm của danh nhân quê hương là việc làm cần thiết.
Mặt khác Đinh Xuyên còn dấu ấn bãi tập quân của Phạm Thông và Phạm Nhu, ở đó nhân dân trân trọng xây quán làm nơi tưởng niệm. Công trình là nơi lưu giữ truyền chiến tích của những người xưa có công với nước với dân. Là công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn tiêu biểu lưu giữ kho tàng điêu khắc gỗ tinh xảo mang đậm bản sắc văn hoá dân gian./.
