Đình Đỗ Hà, thôn Đỗ Hà, xã Thường Tín
Giới thiệu
Theo lời kế của các cụ cao niên trong làng, làng Đỗ Hà ở khu vực giáp 2 con sông: sông Nhuệ và sông Tô Lịch, vào mùa mưa bão, nước sông thường lên to, có năm làm ngập cả ruộng đồng... chính vì vậy, dân làng Đỗ Hà đã xin bài vị của thần Độc Cước ở Thanh Hóa về để phụng thờ với mong muốn thần che chở, phù hộ mưa thuận, gió hòa cho dân.
Về việc thờ thần Độc Cước tại di tích, hiện có thần phả và sắc phong ghi
chép lại (do các cụ trong Ban quản lý cung cấp).
- Huyền thoại về thần Độc Cước có nhiều di bản khác nhau. Thần phả do quan Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn vào ngày tốt, năm Hồng Phúc 01 (1572) và quan Quản giám bách thần Tri điện hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân y theo chính bản vào ngày tốt, năm Vĩnh Hựu 03(1737), ghi lại thân thế và sự tích của Thần như sau:
"Xưa, cháu ba đời của Viên Đế là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần thú ở núi Ngũ Lĩnh phương Nam, gặp người con gái đẹp nên đem lòng yêu mến rồi kết duyên với nàng. Khi trở về phương Bắc, sinh ra Lộc Tục. Đế Minh phong Lộc Tục cai quản nước Xích Quỷ (tức nước Việt ta). Vua có tên hiệu là Kinh Dương Vương, xưng họ là Hồng Bàng, nối đời cha truyền quốc xưng Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết duyên với Hồ Động Đình tiên nữ là Âu Cơ rồi dời về núi Ngũ Lĩnh. Trên đầu núi hiện ra mây lành ngũ sắc rực rỡ. Liền đó bà Âu Cơ mang thai đủ ba năm một tháng. Đến kỳ, sinh một bọc trăm trứng. May mắn nở ra trăm người con trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng nổi tiếng ở đời. Không phải bú mớm vất vả mà tự trưởng thành.
Bấy giờ Long Quân ở thủy phủ đã lâu, nhân đó, bảo với bà Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, Nàng là giống tiên. Tuy do khí âm dương hòa hợp có mang nhưng muôn loài bất đồng, thủy hỏa xung khắc, không thể ở chung với nhau nên phải chia biệt. Ta đem theo năm mươi người con trở về miền sông bể, năm mươi con theo mẹ trẻ về miền núi. Chia nước ra mà trị". Âu Cơ cho là phải. Trăm người con tất đều tuân theo. Bởi vậy, Long Quân cùng năm mươi người con từ giã mẹ về thủy phủ. Âu Cơ đem năm mươi người con về sông Bạch Hạc, Việt Trì dựng nước, lấy tên là Văn Lang, kinh đô là Phong Châu rồi cử người tài giỏi nhất trong số họ làm vua, gọi là Hùng Vương. Hùng Vương chia nước làm 15 bộ. Bộ thứ nhất là Sơn Tây, bộ thứ hai là Sơn Nam, bộ thứ ba là Hải Dương, bộ thứ tư là Kinh Bắc, bộ thứ năm là Ái Châu, bộ thứ sáu là Hoan Châu, bộ thứ bấy là Bố Chính, bộ thứ tám là Minh Châu, bộ thứ chín là Ai Lao, bộ thứ mười là Hưng Hóa, bộ thứ mười một là Cao Bằng, bộ thứ mười hai là Lạng Sơn, bộ thứ mười ba là Tuyên Quang, bộ thứ mười bốn là Quảng Đông, bộ thứ mười lăm là Quảng Tây, sai các em mình mỗi người cai quản mỗi nơi làm chỗ thân thuộc. Từ đó về sau, tương truyền mười tám đời vua thịnh trị hơn hai ngàn năm. Đời nối tiếp đời, cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương, Vàng, Ngọc, Lụa, Là, Xa, Thư. Núi sông thu về một mối, làm thủy tổ của nước Nam Việt.
Trải đến triều vua Hùng thứ 18, truyền đến Duệ Vương, nhưng Duệ Vương không có con nối nghiệp, bèn nhường ngôi cho Thục An Dương Vương (họ Thục, tên là Phán, người Ba Thục). An Dương Vương lên ngôi, cha truyền con nối được năm đời. Rồi từ đấy nước Việt ta bị lệ thuộc gồm 349 năm vào nhà Hán, Ngô, Tấn, Tề, Lương. Trải đến các triều Tiền Lý, hậu Lý, Đinh, Lê, Lý. Các triều vua này đều có các bậc anh quân sáng suốt, truyền nối cho nhau được thịnh vượng. Bấy giờ, vì sớm ứng điềm sấm lạ nên dựng lên triều Lý rồi cho kế ngôi, trao cho người tiết tháo.
Ngôi vua khi vua truyền đến Thái Tổ, Thái Tông, vua khoanh tay rũ áo mà trên dưới hòa mục. Dân vui yên ổn, khơi giếng, cày ruộng rộn rã khắp nơi. Không một người dân nào không thỏa lòng trong cuộc sống cũng không một người nào không vui vẻ. Đời ấy tôn xưng vua là bậc hiền quân vậy!
Đương lúc bấy giờ, người đời truyền rằng ở trang Đông Thắng, huyện Bảo Lộc, phủ Lạng Giang, đạo Kinh Bắc của nước Việt ta có người họ Nguyễn tên Nghĩa, vốn là người xử thế có học vấn, truyền đời giữ chữ hiếu kính. Ông lấy bà Trân Thị Ngô, người bản trang làm vợ. Ông họ Nguyễn vốn gia truyền chính tông là thầy phù thủy nhưng lấy việc chữa bệnh làm nghiệp. Khi vợ chồng ông ngoài 50 tuổi mới sinh được một người con trai, đặt tên là Nguyễn Lễ. Nguyễn Lễ học giỏi, văn tự tinh thông, binh lược am tường, cung nỏ thiện xạ, văn võ kiêm toàn. Năm 22 tuổi, vì không lường trước được số trời, nên chỉ một năm cả cha và mẹ đều qua đời. Ông Lễ tìm nơi đất tốt, làm lễ mai táng. Để tang cha mẹ đẻ ba năm, phụng thờ chí hiếu, nên khuynh gia bại sản. Ông bèn nhàn tản du chơi khắp phủ Lạng Giang. Lúc trở về lại gặp phải mấy năm mất mùa, nhân dân đói khô. Trộm cướp nối lên khắp nơi. Ông than rằng: "trước đây ta giàu sang, bây giờ thì nghèo khố. Nay lại gặp cảnh loạn lạc biết lấy gì sinh sống? Chẳng bằng tìm nơi đất lành mà giữ mình nuôi chí lớn". Thế rồi, ông tạ người dân, giao phó phần mộ, tự mình thu vén gia tài, quyết chí ra đi.
Một ngày kia, khi trang Triền Nại huyện Yên Phú, phủ Từ Sơn nghe thấy bản trang có người họ Đoàn, tên Phượng, là người rất giàu có, ông tìm đến họ Đoàn xin ở. Ở đây được mấy năm, họ Đoàn thấy ông là người giỏi văn tự, thông minh hơn người, binh pháp, cung, nỏ đều thiện nghệ. Họ Đoàn có một người con giá tên là Thị Khôi, tuổi vừa 28 mày liễu má đào, sắc đẹp thực là nghiêng nước nghiêng thành. Họ Đoàn mới gả Thị Khôi cho Nguyễn Lễ làm vợ. Thế là bèn định ngày tốt để kết duyên, hôn lễ xong xuôi, họ Đoàn bảo vợ chồng ông lễ trở về trang Đông Thắng, phủ Lạng Giang để báo với mọi người rồi làm lễ bái yết gia đường tiên tổ, thăm viếng phần mộ cha mẹ, vợ chồng ông vâng mệnh. Sau khi công việc hoàn thành, hai vợ chồng ông trở về trang Triền Đông lập nghiệp. Đến khi Nguyễn Lễ 50 tuổi, Bà họ Đoàn tuổi ngày càng cao mà vẫn chưa sinh được người nào, mộng lành chưa động và long xà chưa ứng. Một hôm họ Đoàn bị trúng gió độc, chữa thuốc nhưng không khỏi, khấn thần cũng không hiệu nghiệm. Ông mất ở nhà chính. Vợ chồng ông lễ tìm thế đất tốt rồi làm lễ mai táng.
Từ đó trở đi, vợ ông Lễ hết lòng làm việc phúc, tận lực làm điều nhân, không một chút làm điều hại người, lợi riêng một mảy không nghĩ đến. Phàm việc giúp người hoặc làm phúc ở các nơi, không việc gì không tận tâm hết sức. Do đó, nhân dân địa phương đều ca ngợi là một nhà tích thiện tất sẽ hưởng một niềm vui lớn. Thế nhưng, vợ chồng ông tuổi đã cao mà chưa một lần sinh nở. Một hôm, nhân vào giỗ cha, vợ chồng ông tự than răng: "Người ta 30 tuổi chưa sinh được con trai thì thất là bất hiếu. Huống hồ nay ta tuổi đã cao mà con cái còn hiếm từng ngày. Nếu không may mất sớm thì tổ tông phần mộ biết ủy thác cho ai? Chẳng bằng tán tài làm phúc, cầu mong có con nối dõi, nhân tâm được trời thấy tỏ giúp đỡ khiến cho điềm lành hiện rõ sớm toại nguyện ước mong!".
Thế là ông bà chuyên tâm giúp nghèo, cứu khổ. Khắp các đền, đình, chùa, miếu không nơi nào không đến cầu khẩn. Trong nhà lập đàn, tô tượng Phật Bà Quan Âm. Ban ngày thắp hương hoa tiến cúng. Ban đêm tụng niệm chân kinh. Một hôm nghe đồn tại núi Tiên Sơn của bản huyện có chùa Trường Liêu là nơi rất linh thiêng, cầu được, ước thấy. Ước nguyện điều gì sẽ được báo đáp. Vợ chồng ông bèn lo tiền, hương lễ vật đến chùa thắp hương khấn rằng: Tôi ở trần thế, nghèo khó, không có tài sản gì, lại không có con nên cầu xin Đức Phật từ bi quảng đại, chứng giám tấm lòng thành ban cho chút phúc để vợ chồng tôi có con trai, thì thực đội ơn đức từ bi quảng đại nhà Phật rất nhiều!" cầu xong vợ chồng cùng ngủ trước án. Đêm khuya, ông mơ thấy trong chùa có mây khói huy hoàng, hương thơm ngào ngạt các Kim Đồng, Ngọc Nữ thối sáo, đàn hát, cùng vàng bạc châu báu nhiều không kể xiết. Ông nhìn lên trên điện thấy một vị quan mặc áo tía, ngồi chỉnh tế ở giữa. Hai bên tả hữu là bách quan. Hình đầu trâu bày khắp, thiên hình vạn trạng. Đang trong lúc mộng, bỗng thấy một người từ bên ngoài đi đến, mặt xanh người đen, cười cười, nói nói, ông ôm lấy ra về. Tỉnh dậy biết là mình nằm mộng. Đến hôm sau, ông bà mới làm lễ bái tạ trước Phật rồi trở về nhà. Thế là uyên ương tương hợp, cầm sắt giao hòa. Thơm tho trong nguyệt các. Đằm thắm giấc mộng nồng. Chung đúc chốn buồng the, duyên hợp đôi thắm đượm. Sau đó bà họ Đoàn thấy tâm thần chuyền động rồi có mang. Đến kỳ, vào giờ Dần ngày mùng một tháng 12 năm Đinh Sửu sinh ra một bọc, nở hình người con trai có hình dạng cao lớn, thân thế kỳ dị. Người đen như sắt, tiếng vang như sấm. Mặt xanh, tai lớn, tóc dựng ngược, mắt dọc, trên đầu có ba hình nhọn như núi. Mọi người cho là Quý, Đứa trẻ tự xưng là Quỷ mọi thần tướng. Cha mẹ sợ hãi, bèn cho ở riêng một nơi, mới được ít ngày, thiên đình sai một viên Đô Thiên lực sĩ xuống bẻ thân đứa trẻ làm hai mang về; phần hữu tâu nạp Thiên đình, còn phần tả để lại. Khi cha mẹ về, chỉ thấy một nửa người, cho là kỳ lạ. Người chỉ còn một nửa sao mà sống được. Cha mẹ mới dùng cây cỏ cuốn vào người đem ra sau miếu trong Triền Đông bị phát hỏa thiêu cháy. Nhân dân mắc bệnh dịch. Chỗ mộ ông, Ngày cũng như đêm, từ dưới đất ra tiếng ầm ầm như sấm nổ. Mỗi ngày, một lần mang lễ vật ra đây khấn vái thì dân mới yên. Sau một trăm ngày, chỗ mộ chôn bị phá thủng, có một người vút lên, tự xưng là Sơn Tiêu Cước Quý Mọi đại thần pháp sư danh tướng, quyền hành đứng đầu, chấn thủ các cung. Nhân dân thấy thế đều khiếp phục. Người này tự lấy lá cây kết thành người. Rồi luyện tập âm binh. Binh lược thật điêu nghệ. Năm lên 6 tuổi, nếu nói về văn thì hiểu thấu văn chương. Nếu nói về võ thì võ nghệ tinh tường. Trên giỏi thiên văn dưới thông địa lý, không việc gì không biết, không vật nào không hiểu. Binh pháp điêu luyện, cung nỏ thiện xạ. Cha mẹ thấy thế rất yêu quý, bèn đổi tên là Chu Văn Minh. Năm lên 8 tuổi cha mẹ ông Minh đều mất. Ông Minh chọn đất mai táng. Sau đó, ông tu hành 10 năm thì đắc đạo. Vạn phép thần thông, đi mưa, cưỡi mây, biến hóa khôn lường. Bay lên, nhảy xuống. khi đến, khi đi. Mênh mang như thảo mộc, biến hóa thành hình người, thu gom hài cốt, luyện thàng thất tính. Hợp khí âm dương luyện thành ba hồn. Biến vật vô chi thành hình sống động. Ăn ma, nuốt quỷ, trị bệnh, trừ tà. Dân được yên, vật được lợi. Người xa, kẻ gần nghe thấy đều theo đến học chính đạo của ông Nhiều người lấy lá cây kết thành hình người, lại có người lấy cây ngô đông kết thành hình người khi luyện tập hưởng lộc nên ai lấy đều hăng say. Nhân dân rất kính phục. Mọi người cũng hân hoan vui vẻ.
Lại nói: Trải mấy năm sau. Một hôm, khi các đệ tử đang tọa thị thì thấy gió lạ, sấm mưa nổi lên và ông biến mất (Đó là ngày 13 tháng 12). Nhân dân cùng các đệ tử sợ hãi. Thấy mối đùn đất thành một to lớn. Về sau, chỗ đất đó trở lên rất linh thiêng, nhân dân dựng bản thôn để tôn thờ. Nhân dân cũng từ đó trở lên thịnh vượng, mạnh khỏe yên vui. Hễ người nào mắc bệnh tật, làm lễ cầu đảo ở đền, xin lấy tro hương hòa với nước trong rồi uống, bệnh tất tiêu tan hết.
Lại nói, về sau đến thời Trần Thái Tông (1225 - 1258), nhân dân thôn Trung Khê, xã Thụy Lôi Thượng, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, đạo Sơn Nam ở nước Việt ta bị nhiễm độc khí trời, mắc phải rất nhiều bệnh tật. Nhân dân mắc bệnh, chó sủa thâu đêm, ngủ không yên giấc, nhân dân mới làm lễ cầu đảo ở miếu Nga Sơn. Đêm ấy, mơ thấy một người cưỡi ngựa hồng, tay cầm vàng, theo sau là một đoàn binh sĩ cầm kiếm kích trang nghiêm, khí giới tinh nhuệ, tự xưng là Nga Sơn đại vương, là Phúc thần của dân. Rồi gọi phụ lão dân làng nói rằng: "Dân các ngươi sao mà không biết? Độc cước thần tướng này là chúa tế của các ngươi! Thiên đình đã định. Các ngươi sao không nhanh chóng làm lễ đến xã Triền Động, huyện An Phú, phủ Từ Sơn lấy tro hương mang về hòa vào nước trong mà uống? sau đó xin sao lấy thần hiệu mang về dựng miếu tôn thờ, bệnh tật sẽ khỏi. Nếu không nghe ta sẽ chịu trọng trách với trời. Sáng họp lại, mọi người đều kể về giấc mơ giống nhau. Lập tức, bèn sửa lễ vật, mang lễ vật đến xã Triền Đông, huyện An Phú rồi kể lại sự việc với địa phương và được sao thần hiệu của Độc Cước thần tướng, xin tro hương mang về hòa vào nước trong để uống, bệnh tật từ đó là khỏi. Mọi người đều cho thật linh ứng. Bởi vậy mới có việc sao thân hiệu và dựng miếu thờ truyền hương hỏa vạn đời không dứt, cùng đất nước dài lâu giữ làm khuôn mẫu. Đức của thần lớn vậy!
Truy tôn là Sơn Tiêu Độc Cước Chu Văn Minh quỷ mọi đại thần.
Ngày sinh và của thần cùng chữ húy nhất thiết phải cấm, gồm hai chữ Minh, Mọi. Chuẩn hứa các xã phụng thờ.
Thân mẫu, thân phụ của thần ghi rõ trong ngọc phả này đều phải đọc tránh âm.
Ngày sinh thần: 01 tháng 12. Lễ dùng trên (cỗ cúng) gồm cỗ chay, oản, thảo quả. Lễ cúng dưới (cỗ ăn)".
Hiện có 22 đạo sắc phong cho Thần Độc Cước, trong đó có 15 đạo sắc thời Lê, 05 đạo sắc thời Nguyễn với các niên hiệu: Thịnh Đức (01 đạo), Cảnh Trị (01 đạo), Dương Đức (01 đạo), Chính Hòa (01 đạo), Vĩnh Thịnh (03 đạo), Vĩnh Khánh (01 đạo), Cảnh Hưng (05 đạo), Quang Trung (01 đạo), Cảnh Thịnh (01 đạo), Thiệu Trị (02 đạo), Tự Đức (02 đạo), Đồng Khánh (01 đạo), Duy Tân (01 đạo) và Khải Định (01 đạo).



