Đình Động Phí
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Loại hình và Xếp hạng: Là di tích Kiến trúc - Nghệ thuật. Được Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ra Quyết định số 985-QĐ/VH ngày 07/05/1997 công nhận và xếp hạng là Di tích cấp Quốc gia.
2. Nhân vật thờ phụng và Giá trị lịch sử
Nhân vật thờ phụng: Đình thờ Thành hoàng làng là Huynh Viết Tượng Công đại vương (Bạch Tượng đại vương).
Thần tích: Ngài cùng em trai (Đệ Viết Địa Công) và người em họ (Đô Đài) là những danh tướng có công lớn giúp Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước vào thế kỷ thứ X. Ngài được Đinh Tiên Hoàng phong chức "Trưởng quản quân sự đài" và thống lĩnh thủy bộ ở Sơn Tây.
Công lao với địa phương: Ba anh em ngài được vua ban thực ấp tại xã Động Phí. Các ngài có công lập ra 3 làng (Động Phí, Nguyễn Xá, Ngọc Động), dạy nhân dân cày cấy, ươm tơ dệt vải, luyện binh đao bảo vệ xóm làng và xây dựng tình đoàn kết.
Sự kiện lịch sử: Động Phí nằm trên đường chiến lược 75 (Khu Cháy xưa), là cơ sở kháng chiến nên khu di tích từng bị thực dân Pháp bắn phá tàn khốc. Sau hòa bình, nhân dân đã góp công sức tôn tạo, phục hồi lại ngôi đình.
3. Đặc điểm Kiến trúc - Nghệ thuật
Lịch sử xây dựng: Ban đầu đình có quy mô nhỏ bằng gỗ lợp lá. Đến cuối thời Lê được mở rộng thành hình chữ Nhất. Thời Nguyễn, đình tiếp tục được mở rộng quy mô đồ sộ (thêm Tam quan, Đại đình, Quyển bồng) nhưng đã bị Pháp phá hủy. Ngôi đình hiện tại là công trình được nhân dân phục hồi lại.
Bố cục hiện tại: Bao gồm Tam quan, Đại bái và Hậu cung (Đình dọc).
Tam quan và Đại bái: Tam quan gồm 3 gian, Đại bái gồm 3 gian lợp ngói ri, bờ nóc đắp mặt nguyệt và rồng. Cột gỗ kê trên chân tảng đá cổ bồng, vì kèo chạm khắc các họa tiết hoa lá, chữ triện.
Hậu cung (Đình dọc): Kéo dài về phía sau, kết cấu chồng rường kẻ bẩy. Tại phần Tiền tế của đình dọc còn lưu giữ 2 bức cốn giá trị chạm khắc đề tài "Tứ linh" (Long, Ly, Quy, Phượng) và 4 bức chạm nổi "Mai hóa rồng, phượng".
4. Hệ thống Di vật, Cổ vật Đình Động Phí lưu giữ một kho tàng di sản rất quý hiếm từ thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn:
Tài liệu cổ: 01 cuốn Thần phả do Hàn Lâm viện đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Đức nguyên niên (1572) và 26 đạo sắc phong (đạo cổ nhất mang niên hiệu Đức Long thứ 4 - 1632).
Di vật bằng đá (Cực kỳ quý hiếm):
01 Cây hương đá làm năm Chính Hòa thứ 10 (1689), trên đỉnh đặt một tòa tháp "Hữu phật hộ trì" bằng đất nung sành gồm 3 tầng 12 mái đao cong.
02 tấm đá khắc vạch chìm hình rồng mang đậm nét nghệ thuật thời Lê.
Đồ thờ tự khác: 03 hương án, 01 khám thờ, 01 kiệu bát cống, 01 long đình (đều sơn son thếp vàng), bộ bát bửu 6 chiếc, 04 bức hoành phi, 04 đôi câu đối, cùng nhiều đồ đồng, gốm sành (đỉnh, bát hương, lộc bình...).
5. Lễ nghi phụng sự
Các ngài hóa vào ngày 09 tháng 12 âm lịch. Vua Đinh Tiên Hoàng từng đích thân đến nơi hóa lập đàn quốc tế và ban mỹ tự "Vạn cổ huyết thực".
Đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa của làng, nơi giáo dục tinh thần yêu nước, đoàn kết, là nơi hội họp của Hội người cao tuổi, Hội nông dân, Thanh niên và tổ chức các lễ hội truyền thống uống nước nhớ nguồn.



