Đình Dục Nội (Đình Đoài)
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Dục Nội là tên địa danh của làng. Thời cổ, làng có tên là Dộc Nội sau này biến âm và vì chữ Dục có chữ Hán để ghi nên đã gọi là Dục Nội. Có thời gian tên là “Cổ Vân trang”. Tên Nôm của làng gọi là Dộc nên di tích còn có tên gọi nôm là đình Dộc hay đình Đoài. Theo các cụ cao niên kể lại làng Dục Nội trước có 3 thôn: Đoài, Trung và Đông. Từ xa xưa làng Dục Nội quy định: Thôn nào làm chung đình thì được làm riêng chùa, thôn nào có chùa chung thì được làm đình riêng, chính vì vậy đình Dục Nội mới có tên là đình Đoài. Năm 1949, thực hiện tiêu thổ kháng chiến để chống thực dân Pháp, địa phương đã tháo dỡ đình Trung, các đồ thờ tự được chuyển về đình Đoài, từ đó đình Đoài là ngôi đình chung của làng Dục Nội.
Đình Dục Nội thờ Đống lang linh thần đại vương, Thiên Cương thần tướng đại vương, Phúc Liệu thần đại vương Ngô tướng quân.
Đống Lang Linh thần Đại Vương, là vị Thổ thần bản địa, có công âm phù cho cộng đồng cư dân. Thần tích còn ghi việc Thành hoàng đã nhiều lần âm phù giúp nước đánh giặc ngoại xâm.
Thiên Cương Thần tướng đại vương có công đánh giặc Xích Quỷ và giặc Ân từ thời Hùng Vương thứ 6. Truyền thuyết kể rằng ông là con Cả của quân vương Kinh Bắc, một trong 15 bộ của triều Hùng Vương. Khi nước ta có giặc A Lỗ Châu cầm đầu là Xích Quỷ xâm lược, Thiên Cương theo lệnh vua cha về triều trừ họa. Khi ra trận, Thiên Cương đã mộ 50 tráng đinh của trang Dục Nội đi theo Ngài đánh giặc. Về sau cha mất, Ngài làm quận vương kế vị. Khi giặc Ân sang xâm lược Ngài đã cùng Phù Đổng đánh tan giặc Ân, đất nước thanh bình, Phù Đổng về trời, Thiên Vương hóa, vua Hùng thương tiếc ban phong cho ngài làm Đại vương, cho lập đền thờ. Dộc Nội cùng hơn 50 nơi khác có đền, đình thờ Thiên Cương.
Phúc Liêu Thần đại vương Ngô tướng quân có tên húy là Ngô Đễ, một vị tướng giúp Bình Định Vương Lê Lợi khởi nghĩa giành độc lập ở đầu thế kỷ 15. Ông là con của ông bà Ngô Hiển và Dương Thị Oanh người xã Bình Lâm, huyện An Phú, nay là thôn Mạnh Tân, xã Thụy Lâm. Khi nước ta có họa xâm lăng, ông đã cùng nghĩa quân Lam Sơn đem binh đi đánh giặc, khi đi qua Dục Nội liền dừng lại, rồi vào bái yết miếu thờ thần. Đêm đó ông nằm mơ thấy 2 vị thần linh hứa sẽ âm phù. Sáng hôm sau, tướng quân liền triệu tập nhân dân 3 khu Dục Nội, tuyển mộ được 200 trai tráng để theo ngài đi đánh giặc. Tướng quân Ngô Đễ đã cùng các tướng lĩnh khác đánh bại quân Minh. Đất nước được thanh bình, Lê Lợi lên ngôi vua phong cho Ngô Đễ làm quan giữ 12 cửa biển, phong thưởng thực ấp ở Đông Ngàn. Ngô Đễ đã tâu với vua về công tích âm phù của 2 vị thần linh ở miếu làng Dục Nội, được vua Lê Thái Tổ ban phong cho 2 thần là Đống Lang và Thiên Cương. Ông lấy bổng lộc giao lại cho dân Dục Nôi tu bổ miếu thêm khang trang và nói với dân sau này sẽ phối hưởng cùng 2 vị được thờ ở miếu làm Đệ tam Thành hoàng.
Căn cứ vào thần tích, sắc phong, bia ký và di vật đình Dục Nội là một ngôi đình được xây dựng khá sớm và được trùng tu nhiều lần. Trong chiến dịch bắn phá Hà Nội 12 ngày đêm năm 1972, bom Mỹ đã tiêu hủy kiến trúc và nhiều đồ thờ tự của đình. Sau đó nhân dân đã dựng một hậu cung nhỏ để thờ cúng Thành hoàng. Năm 1992, ngôi đình được khôi phục với kiến trúc 3 gian 2 chái. Năm 2017, ngôi đình được trùng tu với quy mô kiến trúc gồm các hạng mục như: nghi môn, đình chính, tảo mạc. Riêng đình chính bố cục theo lối chữ “đinh” gồm 3 gian 2 chái, mái đao cong, trên nóc trang trí rồng chầu mặt nguyệt, hệ thống cửa bức bàn chắc khỏe. Trang trí trên kiến trúc chủ yếu thể hiện đề tài tứ linh, tứ quý.
Đình Dục Nội còn lưu giữ được khá nhiều di vật quý như thần tích, thần sắc, ngai thờ, kiệu bát cống, bia đá, chuông đồng. Đáng chú ý là 12 đạo sắc phong thần có niên hiệu từ thời Lê Cảnh Hưng (1742) đến thời Nguyễn Khải Định (1924). Nội dung các sắc đều ghi việc các triều vua ghi công, ban tặng cho 3 vị Thành hoàng Dục Nội. Các bản sắc được giữ gìn tốt, nguyên vẹn cùng với bản thần tích đã được Viện nghiên cứu Hán Nôm phiên âm và dịch nghĩa. Ba bia đá ghi việc Hậu Thần, được làm vào thời Nguyễn (Tự Đức, Đồng Khánh và Thành Thái). Hai chuông đồng đều được đúc năm Tự Đức thứ 34 (1881) (1 chuông hiện nay bị mất); 3 long ngai thờ, hoành phi, câu đối, chóe nước, chiêng đồng, cờ hội, cờ ngũ hành...
Hằng năm, dân làng Dục Nội tổ chức nhiều ngày lễ trọng để tưởng nhớ công tích của các vị Thành hoàng. Lễ sinh thần tướng quân Ngô Đễ (10/8), lễ hóa thần (12/11), lễ khánh hạ vào 2 ngày: 4/3 và 5/5 khao thắng trận trở về. Đáng chú ý là lễ khao xuất quân mùng 4 tháng 3 (âm lịch) thường là lễ lớn nhất, là ngày tổ chức lễ hội nếu gặp năm được mùa, dân khang vật thịnh.
Trước đây, trong lễ tháng 3, ngoài các nghi lễ tế, cỗ phe giáp như thường thấy ở các nơi khác, tại Dục Nội có một số nét đặc biệt riêng. Lễ vật bắt buộc phải có cơm nắm, bánh dày và bỏng gạo nếp, có làm các bông hoa tre dâng lễ tục ở làng vẫn gọi là “bông tháng 3”. Các bông hoa tre vót khéo tròn đều, bông to, rủ xuống đầu mấu của một que tre lớn, sao cho thật dẻo, đều tròn mới đạt. Những năm được mùa, làng sẽ tổ chức lễ hội lớn, vài năm có một lần. Lễ hội tổ chức đông vui mời làng chạ đến, mời khách các nơi. Khi làm hội có tổ chức nghênh rước kiệu bát cống, mỗi thôn một kiệu rước từ 2 đình Trung và Đoài ra “Cầu Giá Ngự” ở chợ Dộc Cổ, các kiệu bay, làm lễ chào nhau, rước bài vị, bát hương về đình thờ… trong một không khí náo nhiệt đông vui. Nay chợ, đình Trung và cầu Giá Ngự không còn, làng cũng không có điều kiện tổ chức lễ hội lớn. Ngày kỷ niệm Thánh hóa cuối năm (ngày 12 tháng 11 âm lịch), làng tổ chức một đoàn lễ có đủ các vị chức sắc, lãnh đạo và đại biểu nhân dân mang lễ đến nhà thờ Ngô tướng quốc ở Mạnh Tân (Thụy Lâm) làm lễ. Tục lệ này duy trì đều đặn từ xưa đến tận ngày nay.
Với những giá trị về lịch sử và văn hóa, di tích đình Dục Nội được xếp hạng di tích Thành phố tại Quyết định số 5193/QĐ-UBND ngày 30/7/2002.



