Đình Dục Tú
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Di tích đình - chùa Dục Tú thuộc thôn Dục Tú, xã Dục Tú. Dục Tú còn có nghĩa hẹp là nơi “địa linh nhân kiệt” mà sách cổ đã ca ngợi là “Dục Chung Anh - Tú Hải Hà” với nghĩa: nuôi khí thiêng để làm đẹp sông biển. Nằm trong địa bàn sinh tụ của người Việt cổ, vùng đất Dục Tú đã có bề dày lịch sử hàng nghìn năm. Theo tư liệu khảo cổ học tại các di chỉ Đồng Vông, Đường Mây, Bãi Mèn, Đình Tràng, Dục Tú... với những hiện vật khảo cổ đồ đá, đồ đồng, gốm, hạt gạo cháy, đã cho thấy đây là vùng đất chứa đựng các tầng văn hóa thuộc nhiều thời đại và trước khi Thục An Dương Vương dựng kinh đô ở Cổ Loa thì người Dục Tú đã tụ cư thành làng, thành xóm bên dòng sông cổ kề cận kinh thành Cổ Loa. Từ thời sơ khai với tên gọi xóm Bến, rồi Bến Dộc, đến xóm Dệt (chỉ dân của làng có nghề chăn tằm dệt cửi) tiếp đến là xóm Dộc rồi Kẻ Dộc, Cổ Giang Hương và sau cùng là tên gọi Dục Tú. Với kinh đô Cổ Loa thì Dục Tú còn là cửa ngõ vào kinh thành. Các quan thường nghỉ lại Dục Tú trước khi tới thành Cổ Loa.
Đình Dục Tú thờ thành hoàng làng là Sĩ Nhiếp người Trung Quốc, quê huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Sĩ Nhiếp làm Thái Thú Giao Châu (Giao Chỉ) được phong làm Long bộ đình hầu, đóng đô ở Liên Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) là người có công truyền bá chữ Hán vào đất Việt. Trong quá trình làm Thái Thú, tương truyền ông đã chăm lo, tạo dựng cuộc sống cho người dân. Theo các tư liệu sử sách Trung Quốc và thư tịch cổ Việt Nam cho biết Tích Quang, Nhân Diên và Sĩ Nhiếp có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình Hán hóa ở Giao Châu bằng cách tích cực mở các trường dạy học. Suốt gần 40 năm làm Thái thú ở Giao Châu, ông đã tiếp thu tôn trọng các phong tục, tập quán và các sinh hoạt của người Việt. Chính vì thế, những người dân đặc biệt là những nhà nho đều gọi ông là “Sĩ Vương” và suy tôn ông là: “Nam Giao học tổ”. Sau này ông được nhà Trần truy phong làm Thiên cảm gia ứng linh vũ đại vương. Ông đã được các nhà sử gia đương thời của nước Việt đánh giá là một nhân vật tích cực, được quý trọng. Đình Dục Tú nằm trên khu đất đầu làng về phía tây, trong khuôn viên rộng, thoáng, đẹp. Đình được trùng tu vào giữa thế kỷ XVIII (theo dân gian kể lại) và vào thời Nguyễn (căn cứ vào dòng chữ trên câu đầu trong đại đình). Đình có quy mô kiến trúc rộng lớn với tổng thể kiến trúc gồm: giếng đình, sân, nhà Tiền tế, Đại đình và Hậu cung. Sân đình rộng lát gạch Bát Tràng cổ.
Đình được làm hướng tây, hồ nước rộng trước cửa đình từ xa xưa dân làng vẫn gọi đây là giếng đình, trước đây cả làng dùng chung giếng này để lấy nước sinh hoạt ăn, uống... Giếng được xây bờ bao toàn bộ xung quanh. Tòa tiền tế 5 gian với bốn góc mái cuốn đao tạo vẻ thanh thoát mềm mại, mái được lợp ngói di, trên bờ nóc đắp rồng chầu mặt nguyệt, bờ dải đắp lân chầu, đao góc đắp phượng vũ, vân mây. Xung quanh tiền tế để trống toàn bộ, không xây tường bao. Tiền tế được dựng năm 1932 song kiến trúc đẹp, thanh thoát với những hoa văn trang trí mang đậm phong cách thời Nguyễn muộn. Đại đình có bảy gian, bốn hàng chân cột, nền lát gạch bát, góc mái cuốn đao cong, trên bờ nóc trang trí hoa chanh, chính giữa đắp mặt trời và vân mây cách điệu, lân chạy bờ dải. Tòa hậu cung 3 gian nối về phía sau xây kiểu đầu hồi bít đốc với 4 hàng chân. Trang trí trên kiến trúc phải kể đến các mảng chạm có hình chim phượng lớn ở trung tâm đang trong thế múa, hai cánh xòe rộng mà từng chiếc lông cánh được tỉa mạnh mẽ, dứt khoát, khiến cho thế phượng chắc khỏe. Dưới phượng là rùa cuốn thủy đội lá sen mà các sóng nước là những vân lá cúc dây, Trên thân xà, các đấu kê, đầu kẻ được chạm nổi cúc dây. Tại gian giữa đại đình, các đầu dư chạm đầu rồng đẹp mắt.... Hình ảnh chạm khắc trên những cốn chính vì trung tâm là rồng, biểu tượng của bầu trời, rồng uốn lượn làm nổi lên sự vần vũ của các cụm mây. Từ miệng rồng phun ra một dòng nước trên điểm xuyết hình cá chép đang bơi ngược dòng... Mỗi con vật một dáng vẻ, hình thức đa dạng làm cho các mảng chạm đạt giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
Đình Dục Tú có lịch sử tạo dựng rất sớm song những dấu tích vật chất của lần khởi dựng ban đầu không còn. Di tích hiện nay tồn tại với kiến trúc chủ yếu ở thời Lê Trung Hưng và được tôn tạo ở thời Nguyễn với những dấu tích còn lưu lại trên đôi câu đầu tại tòa đại đình ghi:“Tự Đức thập nhị niên tuế thứ kỷ mùi tứ nguyệt cát nhật đoài thượng giáp trùng tu”. Và “Tự Đức thập nhị niên tuế Kỷ Mùi mệnh hạ cát nhật trùng tu thượng lương” nghĩa là ngôi đình được trùng tu năm Tự Đức thứ 12 (1859). Theo các cụ kể lại thì lần trùng tu sớm hơn ở vào giữa thế kỷ XVII, những dòng ghi lại trên của lần trùng tu thứ hai vào mùa xuân năm 1859. Sau này ngôi đình do năm tháng bị mối mọt đã tu bổ nhiều lần và giữ nguyên kiến trúc như hiện nay. Như vậy, gần 400 năm tồn tại di tích đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần, cũng qua mỗi lần tu sửa, các nghệ nhân xưa đều để lại cho đời sau những chứng tích trường tồn thông qua các tạo tác trang trí trên gỗ và các chất liệu tu bổ, tôn tạo di tích.



