Câu chuyện điểm đến
01Nhân vật thờ phụng và Giá trị lịch sử
Nhân vật thờ phụng: Đình thờ Thành hoàng làng là Thuận Thế Chiêu ứng sắc sinh thần đại vương (tên thật là Vũ Danh Phục) - một vị nhân thần thời vua Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông.
Thần tích: Sinh thời, ngài thông tuệ kinh sử, được vua Lý Anh Tông phong chức Tiết chế chỉ huy Sơn lam sứ phụ trách việc thuế khóa phủ Ứng Thiên. Ngài có công giúp dân lập trường học, tậu ruộng ao, khuyến khích sản xuất tại làng Hậu Xá. Truyền thuyết kể rằng, thời giặc Minh xâm lược, ngài đã báo mộng giúp Lê Thái Tổ (Lê Lợi) dẹp giặc cứu nước nên được phong "Thượng đẳng phúc thần".
Sự kiện cách mạng: Đình là nơi tiễn đưa những người con của làng Hậu Xá lên đường tòng quân đánh Mỹ. Xã Phương Tú đã có nhiều đóng góp lớn lao trong hai cuộc kháng chiến với 25 liệt sĩ và 06 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
02Đặc điểm Kiến trúc - Nghệ thuật
Quy mô và Bố cục: Quần thể di tích tọa lạc trên khu đất rộng rãi ở đầu làng, hướng Tây, phía trước có ao đình. Các hạng mục bao gồm: Giếng đình, Nghi môn, Đại bái và Hậu cung (kết cấu chữ Đinh - J).
Nghi môn: Làm theo kiểu trụ biểu với mặt sập hổ phù, đỉnh đắp nghê chầu, dưới là ô lồng đèn trang trí tứ linh (long - ly - quy - phượng).
Đại bái: Quy mô đồ sộ gồm 3 gian 2 chái, 4 mái đao cong vút lợp ngói ri cổ. Hệ thống vì kèo kết hợp giữa kiểu "thượng chồng rường giá chiêng, hạ cốn, bẩy hiên" (ở gian giữa) và "thượng ván mê chạm hổ phù, hạ chồng rường, bẩy" (ở gian bên). Điêu khắc gỗ tập trung vào hình tượng rồng ("Ngư long hý thủy"), nghê, hổ phù ngậm chữ thọ, hoa sen, chim phượng. Đặc trưng là 4 đầu dư chạm đầu rồng lộng lẫy và các mảng chạm đao mác, mây cụm mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX).
Hậu cung: Gồm 3 gian kiểu nhà dọc (chuôi vồ), xây bít đốc, vì kèo kiểu "kèo kẻ quá giang". Trong cùng là bệ thờ đặt long ngai bài vị sơn son thếp vàng.
03Hệ thống Di vật, Cổ vật
Tài liệu giấy: 01 Ngọc phả, 01 Thần tích và 10 đạo sắc phong từ thời Hậu Lê, Tây Sơn đến thời Nguyễn (Chiêu Thống, Cảnh Hưng, Cảnh Thịnh, Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định).
Đồ gỗ: 01 cỗ long ngai bài vị mang phong cách thế kỷ XVII (cao 117cm), 01 kiệu bát cống (phong cách đầu thế kỷ XVIII), 05 bức hoành phi cổ (có bức "Nam Quốc Lương Hàn"), 06 đôi câu đối cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, 01 bộ cửa võng chạm lộng, 01 khám thờ kép.
Hiện vật khác: Đồ đồng (đôi hạc, chiêng, bộ tam sự), đồ sứ (03 lọ lục bình) và các đồ tế tự khác.
04Lễ nghi phụng sự
Lễ hội chính: Diễn ra hàng năm vào ngày mùng 3 tháng 2 Âm lịch.
Nghi thức: Có lễ Mộc dục (bao sái tượng/ngai bằng nước mưa tịnh khiết), lễ rước kiệu từ Đình xuống Miếu Cò rồi rước về yên vị. Ban tế gồm 12 người do Lý trưởng hoặc Chánh hương hội làm Chủ tế (mặc áo đỏ, hia đỏ). Tế lễ kéo dài 2-3 tiếng với 8 tuần tế.
Phần hội: Tổ chức các trò chơi dân gian như đánh đu, leo cầu, bắt vịt, đập niêu nhằm thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng.
05Công tác bảo vệ và Khoanh vùng di tích
Theo biên bản ngày 23/10/2004 và trích lục bản đồ (tờ số 01 năm 2003), di tích được khoanh vùng như sau:
Khu vực 1 (Bất khả xâm phạm): Bao gồm thửa đất số 158 với diện tích 857,8 m2 (Phía Đông giáp đường vào thôn, Tây giáp ao đình - thửa 210, Nam giáp ao chùa - thửa 534, Bắc giáp đường Tỉnh lộ 428).
Khu vực 2 (Điều chỉnh xây dựng, bảo vệ cảnh quan): Bao gồm thửa đất số 210 (diện tích 1154,3 m2 - giáp ruộng, thửa 533) và thửa 534 (diện tích 268 m2 - giáp đường thôn, thửa 210, thửa 158).
Mọi hoạt động vi phạm, xây dựng làm ảnh hưởng tới khu vực 1 và khu vực 2 đã khoanh vùng đều bị nghiêm cấm.



