Đình Hiền Lương
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Câu chuyện điểm đến
01ĐÌNH HIỀN LƯƠNG
02Thôn Hiền Lương, xã Nội Bài, thành phố Hà Nội
Đình Hiền Lương thuộc thôn Hiền Lương, xã Nội Bài, thành phố Hà Nội. Đình được Bộ Văn hóa Thể thao xếp hạng là di tích cấp Quốc gia tại Quyết định số 95-QĐ/BVHTT ngày 24/01/1998.
Hiền lương trước cách mạng là nơi hội tụ của nghĩa quân Đề thám, với các ông Đề Duộc, Quản Tín. Đình Hiền lương, nơi diễn ra trận chiến ác liệt giữa nghĩa quân Đề Thám với thực dân Pháp vào năm 1912. Nhân dân Hiền lương cùng nghĩa quân đã diệt trên 80 lính Pháp, trong đó có một quan tư (Tư Hổ). Tại đình Hiền Lương đã tổ chức một hội nghị của ủy ban kháng chiến tỉnh Phúc yên lãnh đạo chống phá vùng vành đai trắng do đồng chí Nguyễn Trọng Duệ- nguyên phó chủ tịch tỉnh chỉ đạo họp trong 3 ngày. Ngôi đình còn là nơi cất dấu tài liệu, nuôi dưỡng cán bộ trong các cuộc kháng chiến của dân tộc. Ngày 3 tháng 2 năm 1949, đồng chí Trần Mỹ bí thư tỉnh uỷ Phúc yên đã tổ chức ngày thành lập Đảng tại đình làng.
Ngôi đình Hiền lương được thờ 4 vị thần làng là:
- Bạch Hạc Tam Giang (thần sông).
- Lý Bí (Lý Nam Đế).
- Vương Bà (Vân Vân Á).
- Thần Kỳ thổ địa: tức thần đất (ông Cộc),
Bạch Hạc Tam giang tên thật là Trường và là con thứ 3 của ông Đào Bột cùng bà Nguyễn Thị Hương. Ông sinh vào giờ Thìn ngày 12 tháng 2 năm Đinh Mão tại vùng Hải dương. Lúc sinh ra ông có tướng mạo kỳ dị: tay dài quá gối, mặt vuông, tai lớn rực rỡ như mặt trời mới mọc, mắt phượng mày ngài, mũi rồng, hàm én. Năm lên 7 tuổi ông có tài bẩm sinh khác thường, tính tình hào phóng, thương người, trí dũng song toàn, tư chất ngay thẳng, ôn hoà, thông minh tài giỏi, kỳ dị vượt hẳn người đời. Năm 16 tuổi mẹ ông qua đời (ngày 17 tháng 12).
Lúc ấy vua Hùng Duệ Vương mở trường để tuyển chọn những người hiền tài giúp nước, an dân, Đào Trường nghe lệnh truyền liền cùng anh em vào Kinh ứng thi. Sau khi thi đỗ, ông được cử làm Nam Long trưởng lệnh cai quản 50 thuỷ thần. Từ đó thiên hạ thái bình, mưa gió thuận hoà, lúa ngô tươi tốt, nhân dân no đủ. Vào cuối đời Hùng Duệ Vương Thục Phán đem quân sang định cướp ngôi, chiếm nước Văn lang, nhà vua bèn triệu Tản viên Sơn thánh cùng Thổ lệnh Trưởng công phong tước chia đường chặn đánh quân Thục. Ông tâu lên nhà vua:" Nên đón đường thuỷ mà đánh", và Đào Trường thống lĩnh thuỷ quân, chỉ một trận là dẹp tan quân giặc. Thắng trận, Đào Trường được triều đình phong làm Thổ lệnh Thống quốc Đại vương trấn giữ Kinh thành Bạch hạc chức Quốc trưởng lệnh đô Lạc Long Hầu đại tướng quân ... Được ít lâu sau, khi bơi thuyền trên sông Lương giang ông đã mất tại đây. Vua nghe tin sai người làm lễ tế, tu sửa cung miếu sở tại làm nơi thờ cúng và phong Đào Trưởng là Thượng đẳng Phúc thần. Về sau thần Bạch hạc đã từng âm phù giúp nước nên các triều vua phong kiến đều có sắc phong cho ông là Nam Thiên thượng đẳng phúc thần và Bạch hạc Tam giang tôn thần.
Thần Địa kỳ (gắn vào ông Cộc: thần rắn), vị thần này được các dân quanh vùng đều cúng thờ. Theo truyền miệng sự tích ông Cộc được kể lại rằng: Làng Hiền lương xưa có 2 cụ già nghèo đi cắt cỏ lát hàng ngày, thấy 2 quả trứng, 2 cụ nhặt về nhưng không ăn được vì cứ khi định đập quả trứng là bị hắt hơi. Vì thế 2 cụ cho vào ấp ở ổ gà, sau trứng nở thành 2 con rắn. Hai ông bà thả rắn vào bát to, sạch để làm lễ sau thả vào vại. Hai rắn lớn rất nhanh, hai cụ thả vào bể, bể không chứa nổi. Sau phải đưa ra ao. Ở ngoài ao hai ông rắn cứ vờn trẻ con nên đành đưa ra khúc sông. Vì thế đã chia thành 2 nơi thờ ở hai bên sông: Một bên là Hiền lương, một bên là Phúc Cường (tức ấp Phú Thịnh).
Đền thờ ông Cộc xưa cách ngôi đình hiện nay chừng 3 km. Cả hai làng thờ ông Cộc đều được hưởng linh thiêng. Hàng năm khi bị hạn hán, dân các làng đến Cầu. Hàng năm anh em các làng Yên ninh, Ninh bắc, Thạch lỗi, Thanh nhàn, Cổ Bái ... cứ vào ngày 26 tháng 11 đều về đình Hiền lương làm lễ rước kiệu lên đền ông Cộc và rước bát hương về đình Hiền lương cầu mưa là được mưa, ....
Vị thần Lý Nam Đế: là vị vua đầu của nhà Tiền Lý, lịch sử đất nước đã nhắc nhiều tới ông. Trong Đại Việt sử ký Toàn thư, bộ chính sử của đất nước đã ghi: " Vua họ Lý, huý là Bôn, người phủ Long hưng, tỉnh Thái bình. Tổ tiên là người Bắc, cuối thời Tây Hán, khổ về việc đánh dẹp mới tránh sang đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam. Vua có tài văn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn trở về Thái bình. Bấy giờ các thú lệnh tàn bạo, hà khắc, người Lâm ấp cướp biên giới, vua dấy binh đánh đuổi xưng làm Nam đế, đặt quốc hiệu là Vạn xuân, đóng đô ở Long biên.
Vua vốn nhà hào trưởng, thiên tu lỗi lạc ... Mùa hạ tháng 4 (năm 543), vua Lâm ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu đức. Giáp Tý Thiên đức năm thứ 1 (544), mùa xuân, tháng giêng, vua nhân đánh được giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, nên ngôi, đổi niên hiệu, đặt ra trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn xuân, là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời. Dựng điện Vạn thọ là nơi triều hội"
Lý Nam Đế là vị vua có chí diệt giặc cứu dân, không may bị Trần Bá Tiên sang đánh lấn, nuốt hận mà chết. Ông ở ngôi 7 năm (540 - 546). Sách lịch sử Việt nam tập I có ghi: "Lý Bí quê ở Long hưng (tỉnh Thái Bình), có tài văn võ, đời đời là nhà hào hữu. Ông có ra làm quan với nhà Lương ít lâu, lĩnh chức giám quân (trông coi việc quân) ở châu Đức (Hà tĩnh). Yêu nước thương dân, bất bình với bè lũ đô hộ, ông bỏ quan về quê. Từ đó ông chuyên chú vào việc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Lương. Trong nhiều năm ông đặt quan hệ hào kiệt với các Châu, chiêu tập hiền tài, tụ tập nghĩa binh, cùng họ bàn mưu tính kế chuẩn bị khởi nghĩa. Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục (thủ lĩnh vùng Chu diễn), phục tài đức Lý Bí đem dân binh đi theo Lý Bí trước tiên. Tiếp đến là Tĩnh Thiều, Phạm Tu (người Thanh liệt, Thanh trì, Hà nội). Lý Phục Man (Hoài đức, Hà tây), ... đã cùng Lý Bí kết làm đồng chí. Vì vậy trên địa phận miền Bắc hiện có hơn 200 đền, miếu thờ Lý Bí và tướng của ông.
Mùa xuân năm 542, đại khởi nghĩa toàn dân do Lý Bí lãnh đạo nổ ra. Không đầy 3 tháng, khí thế tiến công và nổi dậy khắp nơi của nhân dân ta đã quét sạch bè lũ đô hộ nhà Lương.
Đầu năm 543, triều đình nhà Lương tổ chức phản công chinh phục lần thứ 2. Chủ động đánh giặc, nghĩa quân Lý Bí tổ chức một trận tiêu diệt lớn ở đảo Hợp phố (lúc ấy thuộc châu Giao). Quân Lương mười phần chết bảy, tám phần. Tướng chỉ huy của địch bị giết, đứa sống sót cũng bị triều đình xử tội.
Tháng 5 năm 543, vua Chăm pa lại đem quân đánh phá Châu đức. Tướng Phạm Tu đã đánh tan quân địch. Thế là biên giới phía Bắc, phía Nam đều tạm yên.
Sau những thắng lợi đó, mùa xuân, tháng giêng năm 544, Lý Bí tuyên bố dựng nước, đặt Quốc hiệu là Vạn xuân. Ông lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam đế (vua nước Nam), dựng điện Vạn thọ, tổ chức một triều đình riêng với 2 ban văn, võ. Phạm Tu- vị tướng tài, được cử đứng đầu ban võ. Tĩnh Thiều, nhà nho học giỏi được cử đứng đầu ban văn. Nam đế phế bỏ niên hiệu của nhà Lương, đặt niên hiệu mới là Đại đức (Đức lón).
Ông sai dựng một ngôi chùa mới, lấy tên là Khai quốc (mở nước). Nhớ ơn vị nữ anh hùng tiền bối Lý Nam Đế ban sắc, phong thần cho Bà Triệu, ...
Việc dựng nước độc lập mang tên Vạn xuân nói lên lòng tự tin vững chắc của nhân dân ta ở khả năng tự mình có thể vươn lên, phát triển một cách độc lập.
Sau gần 5 thế kỷ bị đô hộ, tình cảm yêu nước của dân tộc Việt nam không bị dập vùi dưới ách áp bức nặng nề và bởi âm mưu đồng hoá. Trái lại tình cảm ấy càng thêm sâu, ý thức dân tộc càng thêm mạnh.
Việc Lý Bí xưng đế và đặt niên hiệu riêng là một việc làm rất có ý nghĩa: Đó là quyền phủ định ngang nhiên quyền " Bá chủ toàn thiên hạ" của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng dân tộc Việt nam là một dân tộc độc lập, là chủ nhân của đất nước và vận mệnh của mình.
Cuộc kháng chiến của Lý Bí sau bị thất bại, ông giao binh quyền cho Triệu Quang Phục. Sau ông bị bệnh mất vào tháng 4 năm 548. D
Đình Hiền Lương thờ tưởng niệm ông với danh nghĩa là vị vua của triều đại, một vị thần thành hoàng của làng - người đã gắn bó với lịch sử của dân tộc. Vào ngày mất của ông, nhân dân tổ chức lễ hội cũng là ngày lễ xuống đồng (13/4). Ngoài ra tại ngôi đình còn thờ Đức Vương Bà, mà theo truyền thuyết thì Bà được gọi là Vân Vân Á, và là mẹ của Thánh. Nhân vật này cho tới nay chưa có tư liệu nào minh chứng, song việc thờ Bà đã ăn đậm trong tín ngưỡng nơi đây. Vì vậy Bà vẫn luôn luôn tồn tại là một trong các thành hoàng của Đình Hiền Lương.
Đình Hiền Lương được xếp hạng là di tích Lịch sử - Văn hóa tại Quyết định số 95/QĐ-UB ngày 24/11/1998 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.



