Đình Hội Phụ
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Hội Phụ nằm ở đầu làng, phía bắc của thôn. Đình được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Xưa kia ngôi đình mang tên Cự Trình và là ngôi đình to nhất tổng Cói. Khuôn viên của đình rộng lớn, đẹp về cảnh quan cũng như kiến trúc tổng thể. Đình từng bị quân Pháp đốt trong trận càn ngày 16/4/1949 qua nhiều lần trùng tu, đình được phục dựng lại vào năm 2005 trên nền đình cũ.
Từ ngoài vào là hồ đình được xây bậc lên xuống để dân làng lấy nước. Cạnh hồ còn một cuốn thư chắn phía bậc lên xuống, đi vào có nơi hóa mã… Phía phải của đình có Ao Sen, phía trái là Ao Lão rồi ruộng bàn cờ… Ra xa hơn có Cầu Chợ, có đền Tiên Lão, Văn chỉ và chùa ở phía sau. Nghi môn xây lối tứ trụ, hai trụ lớn và hai trụ nhỏ mở ra 3 cửa đình theo trục thần đạo. Trước cửa đình cũ hiện nay vẫn còn đình Vuông xây năm 1905, vốn là nhà tiền tế trước đây (hay còn gọi là phương đình) với kết cấu 2 tầng, 8 mái, 8 góc đao với vân lá hóa rồng. Trang trí trên bờ nóc của phương đình là 1 mặt trời tỏa sáng, 2 góc đầu bờ nóc là 2 con kìm. Trong tòa phương đình các cốn đều được chạm nổi, chạm bong kênh với đề tài truyền thống là tứ linh (long, ly, quy, phượng). Các đầu dư dạng đầu rồng được tạo phẳng, những đao mái ngang. Phần các kê đều được chạm nổi các hình lá lật. Đây là một tòa phương đình đẹp còn lại mang phong cách nghệ thuật giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, xen lẫn những nét kiến trúc ở thế kỷ XIX.
Đình chính mới được phục dựng lại bề thế khang trang trên nền đình xưa cũ. Đại đình gồm 3 gian 2 chái rộng, mái uốn đao cong. Bờ nóc đắp hoa chanh, hai đầu trang trí đầu kìm, lân chạy bờ dải, đầu đao trang trí lân chầu, cụm vân mây, hệ thống cửa bức bàn chắc khỏe, xung quanh không xây tường mà thưng ván tạo vẻ ấm cúng cho ngôi đình. Kiến trúc với 6 hàng chân cột tạo lòng đình rộng thoáng. Riêng gian giữa vì trung chồng cốn với đề tài tứ linh, tứ quý. Trên các xà trang trí hoa văn lá lật, vân mây, văn triện lá giắt, các đầu dư chạm trổ mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Gian chính giữa có màn giếng được sơn son thếp vàng, chạm nổi các cụm hoa lá mềm mại đẹp mắt. Bộ cửa võng lớn trang trí với nhiều đề tài khác nhau tạo nên một bức tranh đầy màu sắc. Hậu cung nối với đại đình tạo nên mặt bằng chữ “đinh” với 3 gian chạy dọc; mặt cửa trước hậu cung phía trên trang trí hổ phù, treo đại tự, dưới mở cửa bức bàn chỉ mở trong những ngày lễ trọng, đi hai bên cửa nhỏ. Trong cung cấm tạo khám thờ Thánh với hai cỗ ngai thờ sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Gian bên trái đình được bố trí để thờ Triệu Việt Vương trang hoàng lộng lẫy với hai lớp cửa võng thiều châu, hai đại tự và hai đôi câu đối ca ngợi công tích của thần. Sát tường trong cùng trang trí các bức khảm gỗ với đề tài tứ linh, tứ quý, chính giữa là ngai thờ có bài vị Triệu Việt Vương được bày trang trọng, uy nghiêm cùng các đồ thờ tự.
Đình vẫn còn bảo lưu được những cổ vật vô cùng quý giá như 4 đạo sắc phong thần niên hiệu Tự Đức thứ 10 (1857), Tự Đức thứ 33 (1880), Thiệu Trị thứ 2 (1842), Đồng Khánh thứ 2 (1887); một cuốn thần phả về Đào Kỳ - Phương Dung và Triệu Việt Vương; 3 bộ ngai thờ; 2 cỗ kiệu và nhiều đồ thờ khác đều mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.



