Đình Khánh Vân, thôn Khánh Vân, xã Thường Tín, thành phố hà Nội
Giới thiệu
Bình ngô đại cáo có ghi: " Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tổng, Nguyên hùng cứ một phương. Dầu cường nhược có lúc khác nhau song hào kiệt đời nào cũng cổ. Vừa rồi " vì họ Hồ chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán hận. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ". Ta đây " Núi Lam Sơn dấy nghĩa, chốn hoang dã nương mình. Ngắm non sông căm nỗi thế thừ, thề sống chết cùng quân nghịch tặc. Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy nắng mưa, nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối."
Trong bối cảnh lịch sử ấy, ở Lam Sơn đã xuất hiện một vị anh hùng dấy cờ khởi nghĩa đang lúc quân thù còn mạnh. Ngài đau đáu một niềm phục quốc và chiêu mộ hiền tài từ bốn phương. Ở Thanh Hoa có một vị tướng quân cũng có chí hướng phục quốc, Ông có tên là Quách Gia Suy.
Quách Gia Suy xin gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và được giao chỉ huy cuộc hành quân thần tốc từ vùng núi Ninh Bình (địa phận Tam Điệp) tiến về giải phóng thành Đông Quan. Đây là những năm tháng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Minh. Thế của quân Lam Sơn tuy mạnh nhưng do địch co cụm về Thăng Long với số quân lên tới 40 vạn do tổng binh Vương Thông chỉ huy nên nghĩa quân Lam Sơn bị hao tổn nặng nề. Tướng Quách Gia Suy mà sau này được triều đình ban phong là:" Linh thánh Đại Vương" tập kích đại quân về phía Nam kinh thành Thăng Long nhưng quân sĩ bị hi sinh rất nhiều. Trước tình hình đó, tướng quân Quách Gia Suy phải rút quân về co cụm tại một làng nhỏ bên bờ sông Tô Lịch. Ngôi làng có thế đất đẹp và đêm ấy Ngài cùng với nghĩa binh lập đàn cầu đảo. Cuộc tế lễ đang diễn ra thì trên trời có đám mây lạ trôi về bao phủ (nơi mà nghĩa quân đang trú ngụ) như một điềm báo sự tốt lành. Quả nhiên, hôm sau ngài cất quân lên đường tiến vào vây thành Đông Đô, cuộc tiến quân hoàn toàn thắng lợi. Sau khi non sông thu về một. mối, ca khúc khải hoàn Lê Lợi lên ngôi và tổ chức mừng công khen thưởng các công thần. Tướng Quách Gia Suy đã kể lại sự kiện đám mây lành cho nhà vua nghe. Vua liền ban danh cho làng ấy là làng Khánh Vân (Khánh là vui mừng, tốt lành; Vân là mây; khánh vân là đám mây lành).
Sau khi tướng quân Quách Gia Suy qua đời, để tưởng nhớ công lao của ngài, làng Khánh Vân đã tôn ngài là vị Thành hoàng làng để phụng thờ. Trải qua các triều đại, ngài đều được ban phong. Ngày 8/8/1767, Ngài được vua Cảnh Hưng ban sắc.
Đình Khánh Vân thờ Quách Gia Suy- một vị tướng của thời Lê Sơ làm Thành hoàng làng. Xét theo giá trị nổi của di tích, căn cứ theo Luật di sản văn hoa, đình Khánh Vân là di tích lịch sử văn hoá- kiến trúc nghệ thuật.
Đình Khánh Vân toạ lạc trên một thế đất đẹp, nhìn theo hướng Tây Nam. Đình có các hạng mục công trình: Nghi môn, bình phong, Đại bái, Hậu cung. Các hạng mục được bố trí trong một khuôn viên có hệ thống tường bao quanh và cây cổ thụ lâu năm tạo không gian linh thiêng, cổ kính, thâm nghiêm.
Khoảng giữa bức tường bao quanh mặt trước di tích được xây hệ thống Nghi môn. Giữa lối đi chính là bức bình phong theo kiểu cuốn thư trụ biểu. Bức bình phong có đắp nổi ngũ phúc và hoa văn chữ Thọ ở chính giữa. Bức bình phong được xây dựng để ngăn chặn sự uế tạp của đời sống trần tục đưa vào khuôn viên của di tích.
Qua khoảng sân rộng 18 m, dài 20,6 m là tam cấp dẫn đến toà Đại bái. Nhìn từ ngoài, Đại bái đình Khánh Vân gồm 5 gian 2 dĩ. Mái lợp ngói ri. Bờ nóc trang trí hàng hoa chanh, hai đầu hồi xây bít đốc, bờ chảy xây giật tam cấp.
Vào bên trong, tòa Đại bái có kết cấu 5 hàng chân cột. Cột cái có chu vi 152 cm, cao 360 cm, cột quân có chu vi 105 cm, cao 284 cm. Hai bộ vì gian giữa kết cấu theo kiểu thức:" thượng giá chiêng chồng rường, trung cốn, hậu bảy". Nối hai đầu cột cái là một câu đầu to, khỏe, có lưng và bụng được bào trơn đóng bén. Câu đầu được đặt trên 2 đấu kê hình vuông thót đáy kê trên đỉnh hai đầu cột cái. Đứng trên lưng câu đầu là 2 trụ trốn, đầu hai trụ trốn đỡ hai con rường thẳng qua đấu kê mỏng, hình vuông thót đáy còn đầu kia vươn ra đỡ hoành mái. Con rường trên cùng đỡ một thượng lương qua đấu kê hình thuyền. Dưới câu đầu ăn mộng từ thân cột cái nối ra đầu cột quân là các rường cụt chồng khít lên nhau tạo thành bức cốn. Cốn này có hình tam giác với cạnh huyền là đầu các rường cụt vươn ra đỡ hoành mái. Từ đầu cột quân có bảy vươn ra đỡ hoành hạ và tàu mái.
Các bộ vì nóc gian bên tương tự như bộ vì nóc gian giữa tòa Đại bái. Nhưng bộ vì nách gian bên là một kẻ chuyền ăn mộng từ cột cái bên dưới câu đầu ra cột quân đỡ hoành mái. Từ đầu cột quân bảy vươn ra đỡ hoành hạ và tàu mái thông qua hệ thống ván gió. Các bộ vì liên kết với nhau bởi các xà thượng và xà hạ tạo lên một bộ khung vững chắc cho công trình.
Gian giữa toà Đại bái bài trí hoành phi, câu đối, nhang án và các đồ thờ tự. Hoành phi được chia thành 4 ô, viền các ô này có trạm rồng, trên mỗi ô có ghi chữ Hán: “Thánh Cung Vạn Tuế” để ca ngợi công đức của Thành hoàng làng cùng câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng:
Lam Đỗng thiên khai nhất đóa tường vân phù ngự khí
Quất Đàm địa tịch thiên thu minh kính chiếu thần quang
Tạm dịch:
Lam Động trời mở, một đóa mây lành phù ngự khí
Quất Đàm đất yên, ngàn năm gương sáng chiếu thần quang.
Các mảng chạm trang trí trên đầu dư, các bức cốn, bảy hiên, …được tạo tác tỉ mỉ, công phu. Đây là các mảng chạm miêu tả những dòng sông nhỏ, những đầm sen có cả ngó sen và hoa sen, ngư ông vọng nguyệt, các cụm vân xoắn, lá lật, lưỡng long tranh châu, long vờn mây, long quần tụ (long trên các bức cốn là linh vật có vây và đuôi như cá chép, ria cá trê). Các mảng chạm này có niên đại trải dài từ thời Lê đến thời Nguyễn. Các mảng chạm khắc với đường nét uyển chuyển, mềm mại, kĩ thuật chạm bong kênh thể hiện rõ từng chi tiết tại các họa tiết được trang trí. Đồng thời, căn cứ vào dòng lạc khoản ghi trên câu đầu gian giữa Đại bái đình Khánh Vân, câu đầu bên hữu: "Tuế thứ Quý Mão niên nhị nguyệt nhị thập lục nhật ngọ thời thụ trụ thượng lương đồng thôn cát khánh", câu đầu bên tả: " Cảnh Hưng tứ thập tứ niên xuân nguyệt cốc nhật cấn thời miếu đình tu tạo tứ giáp bình khang vượng tướng" Qua đó có thể kết luận, đình Khánh Vân là ngôi đình có trước đây 300 năm và đến năm Cảnh Hưng tứ thập tứ niên (1783) được tôn tạo để trở thành một di tích có giá trị quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa của đất nước nói chung và tỉnh Hà Tây nói riêng.
Tiếp liền sau Đại bái là toà Hậu cung nằm song song tạo thành kết cấu chữ Nhị. Hậu cung đình Khánh Vân là ngôi nhà ngang 3 gian 2 dĩ, được làm theo kiểu tường hồi bít đốc với 2 mái chảy lợp ngói ri. Các bộ vì đỡ mái làm theo kiểu: "thượng giá chiêng chồng rường, trung kẻ, hậu bảy". Các cấu kiện của bộ vì Hậu cung được bào trơn đóng bén thiên về độ vững trắc cho bộ khung của công trình.
Giữa Hậu cung đình Khánh Vân có bài trí một khám thờ có kích thước: cao 215 cm; rộng 100 cm; dày 140 cm. Khám thờ được sơn son thiếp vàng. Diềm khám có chạm lưỡng long chầu nguyệt, thân khám chạm mặt hổ phù, hoa dây cách điệu... được tạo tác công phu, uyển chuyển. Trên khám thờ có treo bức hoành phi đề: Trạc Quyết Linh (Sáng rỡ vẻ thiêng).



