Đình Kim Tiên, thôn Kim Tiên, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội
Nội dung bài viết
Câu chuyện điểm đến
01ĐÌNH KIM TIÊN
Thôn Kim Tiên, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội
Di tích Đình Kim Tiên được xếp hạng di tích Quốc gia tại Quyết định số 95/1998/QĐ-Bộ VHTT ngày 24/1/1998.
ĐÌNH KIM TIÊN – đó là tên gọi duy nhất mà nhân dân địa phương vẫn thường gọi từ xưa đến nay.
Di tích đình Kim Tiên hiện nay thuộc thôn Kim Tiên, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội.
Xuân Nộn xưa là vùng đất cổ có rừng, có đồi, có suối, có sông. Đó là rừng thông làng Bẽ, có con suối từ khe Vạn Khê chảy về (Nguyên Khê), có rừng ổi bạt ngàn ở bãi ông Thiều thường gọi là Đồng Đế, có rừng cỏ gà bên bờ sông Nguyệt Đức kéo dài đến tận đầu cầu Phủ Lỗ bây giờ, có sông Nguyệt Đức uốn lượn quanh co bao quanh phía Bắc. Trên mảnh đất này còn có con đường cái lớn từ ngã ba Lương Quy đến núi Vũ Dương (Núi Sái) đi về Kinh Bắc (Bắc Ninh). Theo truyền thuyết, con đường này có từ thời Âu Lạc do An Dương Vương sai dân đào đắp để hàng năm vua về lễ thần núi Vũ Dương có công giúp An Dương Vương diệt yêu Kê xây dựng được Loa Thành.
Ở phía Bắc làng Đường Nhạn còn có khu rừng Nguyệt Lâm từ Vạn Khê (Nguyên Khê) chạy theo dọc bờ Nam sông Nguyệt Đức nối liền với rừng Đào Xá (Đào Thục). Sông Nguyệt Đức là phòng tuyến thời Lý chống quân xâm lược nhà Tống. Rồi Đồng Đế bãi Già thuộc làng Nhạn thời Trần đã diễn ra trận tập kích tiêu diệt một đạo quân Nguyên. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cụ Chánh Tiền, lãnh tụ nghĩa binh làng Nhạn đã lấy bãi Già Đồng Đế làm nơi tập mã luyện binh, nơi xuất phát của binh đi đánh đồn Tây ở Phủ Đa, Phù Lỗ.
Làng Kim Tiên còn có tên gọi là “Tươn”, xưa làng Kim Tiên hầu như là rừng rậm, đầm lầy đầy tà và lau xú (loại cây mọc ở đầm nước), làng có từ đời Trần. Theo truyền thuyết, một số người đã về đây cư trú, khai phá rừng, có đầm giống một bán đảo, cảnh quan kỳ ảo rất đẹp khác nào cảnh tiên nên làng mới gọi là Kim Tiên. Kim Tiên ở nơi xa đồng lụt, mỗi khi mùa mưa nước sông lên ngập trắng cánh đồng, cuộc sống con người ở đây vô cùng cực khổ. Khổ cực là vậy, người dân Kim Tiên vẫn kiến tạo nên những công trình văn hóa, xây dựng cuộc sống tinh thần, đó là đình, chùa, đền, miếu cổ kính, trang nghiêm. Chùa làng có từ đời Hậu Lê có hàng chục đời sư về trụ trì. Kim Tiên có năm dòng họ ở đan xen trong hai xóm “Tươn hạ” và “Tươn thượng”, trong đó có hai dòng họ nhiều chi cành và đông nhất là họ Nguyễn Kim và họ Phạm.
Theo nguồn tư liệu thành văn trong đình như sắc phong, thần phả cho biết đình Kim Tiên là nơi tưởng niệm thần Bạch Hạc Tam Giang, là một nhân vật được thờ làm thành hoàng của nhiều làng quê truyền thống. Lai lịch và công tích của thần đã được sử sách xưa và nay ghi chép khá nhiều. Ông Đào Trường (tức Bạch Hạc Tam Giang) là con thứ ba của ngài Thái phó Bộ trưởng đất Hoan Châu tên là Đào Bột. Tướng công Đào Trường có tài kinh bang, võ nghệ cao cường, được tiến cử làm Thổ lệnh trưởng, cai quản quận Sơn Nam.
Khi ấy giặc Bắc đem quân xâm lược nước Văn Lang. Trước nạn ngoại xâm, Hùng Duệ Vương đã dời Thổ lệnh Đào Trường về để bàn kế hoạch đánh giặc. Thổ lệnh tâu rằng: “Nên đón đường thủy mà đánh”. Nhà vua nghe theo và giao cho Đào Trường thống lĩnh thủy quân, chỉ một trận đã dẹp tan quân giặc. Thắng trận, Đào Trường được triều đình phong làm Thổ lệnh thống Quốc Đại vương trấn giữ kinh thành Bạch Hạc, chức Quốc trưởng lệnh đô, Lạc Long Hầu Đại tướng quân. Sau đó Thổ Lệnh Đào Trường còn chỉ huy quân đội Văn Lang đánh tan cuộc xâm lược lần thứ hai của giặc Bắc và dẹp yên loạn ở Hồng Châu. Trên đường thắng giặc từ Hồng Châu trở về, Đào Trường đã giao quyền chỉ huy quân đội cho em là Thạch Khanh để theo dòng sông nhỏ tới Tôn Thất trang và hóa tại đây.
Nghe tin ông mất, nhà vua vô cùng thương tiếc. Hùng Duệ Vương đã cho tổ chức tang lễ trọng thể, phong cho Đào Trường là Thượng đẳng phúc thần và cho phép 172 làng lập đền thờ Bạch Hạc Tam Giang. Các đời vua sau đều ban sắc phong thần. Hiện nay tại đình còn lưu giữ được 10 đạo sắc phong thần, sớm nhất có đạo sắc Tự Đức năm thứ 7 (1854).
Thường niên cứ đến ngày mùng 8 đến mùng 10 tháng Giêng âm lịch (Đại lễ) rước kiệu từ Đền đến Đình tế lễ, ngày dã hội lại rước kiệu từ Đình về đền. Lễ hội mang tính truyền thống cùng những nghi thức mỹ tục thuần phong thể hiện lòng kính trọng và biết ơn các vị thần hoàng làng và mang đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài việc tế bái còn rất nhiều trò vui, khách thập phương, anh em bè bạn xa gần đến ngày đó về lễ bái, đường từ đình về các xóm tấp nập vui tươi, trong làng nhà nhà khói hương, người ra người vào cười nói rộn rịp, tay bắt mặt mừng chúc nhau những lời hay điều tốt.
Qua khảo sát và nghiên cứu thực tại, đã xác định được Đình Kim Tiên thuộc loại hình tôn giáo tín ngưỡng thờ thần hoàng làng. Với những giá trị nổi bật hiện còn của di tích, đình Kim Tiên thuộc loại di tích kiến trúc – nghệ thuật.
Di tích đình Kim Tiên được xây dựng từ khá lâu đời. Nhưng trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, đến nay đình không còn giữ được những tư liệu nói về năm khởi dựng. Tấm bia đá còn lưu giữ được tại đình có niên hiệu Vĩnh Hựu tứ niên (1738) cho biết việc nhân dân tôn bầu ông Tổng Thái giám Nguyễn Đăng Vinh tước Lai Triều Hầu và vợ là Quận phu nhân Nguyễn Thị Cảnh làm hậu thần, cùng việc công đức ruộng đất, tiền của cho bản xứ. Bia còn ghi các tiết lễ phụng sự bản xã thành hoàng, phụng sự quan hậu thần, các quy định tế lễ cho từng kỳ giỗ chạp. Trên thượng lương tòa tiền đường ghi rõ: Hoàng triều Khải Định tứ niên (1919) đình được trùng tu. Như vậy, qua các cứ liệu nói trên, có thể khẳng định di tích đình Kim Tiên được ra đời từ trước năm 1738.
Đình Kim Tiên là ngôi đình của một làng, khu vực mà đình tọa lạc cho thấy quy mô kiến trúc của ngôi đình tương đối lớn. Đình được tạo dựng quay theo hướng Đông Nam trên một khu đất cao. Đại đình và hậu cung được liên kết, gắn bó với nhau bằng hệ thống tường bao khép kín. Tòa đại đình được xây dựng trên một nền cao hơn so với xung quanh, làm theo kiểu nhà bốn mái với các góc đao được uốn cong lên. Lòng nhà chia thành 5 gian 2 dĩ. Gian giữa để lòng thuyền làm nơi tế lễ, các gian bên tôn nền cao dùng làm nơi hội họp việc làng.
Cấu trúc bộ khung gỗ toàn đại đình rất bề thế, vững chắc, bao gồm 6 bộ vì chính được làm thống nhất theo kiểu “Thượng chồng giường giá chiêng hạ kẻ”, mỗi bộ vì có kết cấu mặt bằng theo lối 6 hàng chân. Các mảng trang trí được tập trung chủ yếu trên các bức cốn, đầu dư, ke, bẩy và một số họa tiết trang trí trên các đầu xà. Nổi bật và đẹp hơn cả là các bức cốn nách ở tòa đại đình. Đề tài trang trí chủ đạo là rồng cuốn thủy; bên cạnh những bức chạm điêu khắc rồng là phượng vũ, long mã, thần quy lạc thư, cùng các họa tiết sóng nước, vân xoắn, đao mác, tạo nên một bức tranh chạm khắc sinh động, mạnh mẽ nhưng không kém phần mềm mại, uyển chuyển. Các đầu dư thể hiện rồng với tư thế nhìn thẳng, miệng ngậm ngọc, đao mác theo lối râu trê, là kiểu chạm mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Trên các bức cửa võng, án gian có hình thức chạm lộng đề tài tứ linh, tứ quý.
Hậu cung là một nếp nhà dọc ba gian gắn với gian giữa của tòa đại bái. Nhà có kết cấu đơn giản, kiểu vì kèo quá giang dưới dạng bào trơn đóng bén. Chính giữa hậu cung là một sàn gỗ cao 120 cm. Phía trên bài trí ba long ngai và tượng thờ các vị thần hoàng làng gồm: Bạch Hạc Tam Giang, Thạch Khanh và Đức Thánh bà Túy Tinh Hoàng Hậu. Các pho tượng được tạo tác tỷ mỷ, công phu, mang nét đẹp dân dã, tràn đầy tính nhân đạo vốn có của dân tộc ta.
Tồn tại tới ngày nay, di tích đình Kim Tiên còn bảo lưu được một bộ di vật văn hóa lịch sử với nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau: một hòm sắc phong, trong đó có 10 đạo sắc phong thần, sớm nhất là sắc phong Tự Đức năm thứ 7 (1854), muộn nhất là Khải Định năm thứ 9 (1924); một bia đá niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 4 (1738), nội dung ghi việc công đức tu sửa đình; một đôi sấu đá nghệ thuật thế kỷ XVIII; một đôi hạc gỗ đứng trên lưng rùa bằng đá xanh, nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX; ba long ngai nghệ thuật thế kỷ XIX; ba pho tượng thể hiện chân dung các vị thánh; câu đối sơn son thếp vàng; một hương án gỗ phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII; một bộ kiệu bát cống nghệ thuật thế kỷ XIX; một bộ bát bửu nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX; hai biển lệnh; các bát hương cổ; một án thờ; một bức cửa võng chạm rồng chầu mặt trời, tứ linh, tứ quý. Ngoài ra, tại đình Kim Tiên còn rất nhiều đồ thờ tế tự khác nhau như y môn, cây đèn, cây nến, lọ hoa, bát hương. Các di vật này đã gắn bó chặt chẽ với di tích và càng làm tăng thêm phần giá trị cho di tích.
Đình Kim Tiên là một trong những ngôi đình có niên đại ra đời sớm ở nước ta. Hơn 200 năm tồn tại, đình Kim Tiên đã vượt qua bao thử thách khắc nghiệt của thời gian, bao biến đổi thăng trầm của lịch sử nước nhà. Năm tháng, binh hỏa chỉ có thể làm biến đổi diện mạo của ngôi đình, còn những giá trị to lớn được định hình ngay từ khi di tích mới ra đời vẫn đọng lại và tồn tại bền vững tới ngày nay.
Về giá trị lịch sử, Đức thần hoàng của đình làng Kim Tiên là thần Bạch Hạc Tam Giang, một nhân vật quan trọng trong hệ thống thần hoàng làng Việt Nam với công tích lớn trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc, bảo vệ nền độc lập tự chủ của dân tộc. Những ghi chép trong thần tích, truyền thuyết và bi ký về thần là những tư liệu quan trọng trong việc tìm hiểu về xã hội, cuộc sống tinh thần của đất nước qua các chặng đường lịch sử.
Kiến trúc Đình Kim Tiên hiện còn bảo lưu được sự bề thế, lộng lẫy của một công trình kiến trúc cổ. Vị trí tọa lạc và cách quy hoạch xưa là hình mẫu lý tưởng của kiến trúc đình làng. Đình Kim Tiên về cơ bản vẫn giữ được những cấu trúc cổ truyền của một ngôi đình làng Việt Nam, bên cạnh đó còn chứa đựng những nét đẹp riêng độc đáo. Kiến trúc có một số chi tiết mang dấu ấn của sự chuyển tiếp từ thời Lê sang Nguyễn. Đình có quy mô bề thế, cột kèo vững chắc; bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm thủng, người nghệ nhân xưa đã thể hiện sinh động các đề tài trang trí truyền thống với nhiều mô típ hoa văn phong phú. Hệ thống các di vật gỗ chạm của đình rất phong phú như kiệu, long ngai, hương án, cửa võng, được chạm khắc tinh xảo các đề tài trang trí truyền thống.
Đặc biệt, đình Kim Tiên còn lưu giữ được tấm bia đá có niên đại sớm Vĩnh Hựu năm thứ 4 (1738) và 10 đạo sắc phong thần. Đó là những tư liệu hết sức quý giá về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật chạm trổ, tạo hình qua hai thời Lê – Nguyễn. Qua nội dung của văn bia có thể thấy một kho tư liệu phong phú về những tên người, tên đất, những sự kiện cụ thể về cuộc sống của các danh nhân ở địa phương và đó chính là những cổ vật quý trong kho tàng văn hóa nước nhà.
Di tích đình Kim Tiên được bảo quản khá tốt, cảnh quan, khuôn viên và các bộ phận kiến trúc được bảo tồn tương đối chắc chắn, bền vững. Có được điều đó là do chính quyền và nhân dân địa phương luôn quan tâm, bảo vệ, giữ gìn. Từ trước đến nay, đình Kim Tiên có nhiều đóng góp với đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương. Nội dung lịch sử và kiến trúc nghệ thuật của di tích là vốn cổ quý giá trong việc giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.



