Đình Lại Đà
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Lại Đà thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền. Ông sinh ngày 12 tháng 7 năm Ất Mùi (1235), quê ở làng Vương Miện, huyện Thượng Hiền (sau đổi thành Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, lộ Sơn Nam), nay là thôn Dương A, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông là Trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong nền khoa bảng Việt Nam. Năm 11 tuổi ông đã nổi tiếng và được mệnh danh là “thần đồng”. Ông đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Đinh Mùi, đời Trần Thái Tông niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình (1247) khi mới 12 tuổi. Khoa thi này có 3 người đỗ cao: Nguyễn Hiền - Trạng nguyên 12 tuổi, Lê Văn Hưu - Bảng nhãn 18 tuổi và Đặng Ma La - Thám hoa 14 tuổi. Vào năm Ất Mão (1255), nước ta lại bị Chiêm Thành xâm lược, vua Trần Thái Tông giao cho Trạng nguyên Nguyễn Hiền đánh giặc giữ nước, đồng thời phong cho Trạng Hiền làm “Quận công Hầu tước”. Chỉ ít lâu sau, khi quân giặc đại bại, Trạng Hiền thu quân về Vũ Minh sơn mở tiệc khao quân và tâu lên vua Trần, cả triều đình hoan hỉ, vua bèn phong cho Quận công Hầu tước chức “Đệ nhất hiển quý quan”. Những năm làm quan trong triều, ông đã được bổ nhiệm đến chức Thượng thư bộ Công, Nguyễn Hiền đã có nhiều kế sách hay để phò vua giúp nước. Về quân sự, ông đã cho mở mang võ đường để rèn luyện quân sĩ. Về nông nghiệp ông cho đắp đê quai vạc sông Hồng để ngăn lũ, phát triển sản xuất, mùa màng bội thu.
Đến năm Bính Thìn (1256) Trạng nguyên Nguyễn Hiền lâm trọng bệnh, tháng 8 ngày 14 thì mất, hưởng dương 21 tuổi. Nhà vua và triều đình thương tiếc, truy phong ông là “Nguyễn đại vương Thành hoàng” và tôn làm thần, 32 nơi được thờ tự, trong đó có thôn Lại Đà.
Hiện nay, tại đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông (thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) còn giữ được nhiều bài vị, sắc phong, câu đối, đại tự, đặc biệt bảo tồn được cuốn ngọc phả nói về sự nghiệp của ông, trong đó có câu ca ngợi tài năng của Nguyễn Hiền:
Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc Vạn niên thiên tuế lập tam tài Nghĩa là:
Mười hai tuổi khai khoa hai nước Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài.
Đình Lại Đà nằm ở vị trí trung tâm của khu di tích, bên trái là chùa, bên phải là miếu. Theo phong thủy, đình được dựng trên đầu hoàng hổ, mặt quay hướng chính nam. Trước cửa đình có hai ao tròn gọi là hai mắt hổ, giữa có hòn đá gọi là lưỡi hổ đình, phía sau đình là mình hổ và tiếp theo là đuôi hổ. Trước mặt đình là cánh đồng, xa hơn nữa là dòng sông Đuống. Đại đình có 5 gian, các vì gỗ chạm khắc mang phong cách Hậu Lê (thế kỷ XVIII). Đình với kiến trúc được kết cấu 6 hàng chân cột. Mái lợp ngói vẩy rồng hay còn gọi là ngói lá đề, bờ nóc chạy thẳng được soi bằng những đường chỉ chìm. Thân cũng như bờ dải được đắp thủng bằng những hình hoa chanh công phu tạo vẻ thanh thoát. Kết cấu tòa đại đình được tạo bởi 6 bộ vì gồm 2 vì đốc đứng trên đầu cột trổ theo kiểu chồng rường. Bộ vì chính cơ bản theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị, trang trí chủ yếu là các loại vân xoắn, lá cách điệu. Thông thường ở các đình cổ truyền xà đai được làm kép xong kết cấu này khá lớn nên chỉ thực hiện bằng một xà. Phần sau của đình làm dạng hai tầng mái, trong đó nhà cầu tạo thành hàng lan can phần trên gắn hai xà do các chấn song dội chạm lộng hoa, lá cúc cách điệu tượng trưng mặt trời.
Bên trong đình có cửa võng với hai lớp được làm vào thế kỷ XIX, chạm kỹ, chú ý tới từng chi tiết. Khung của y môn bổ ô to nhỏ khác nhau bao lấy hoành phi có ghi 4 chữ lớn: “Nguyễn Đại Vương từ”. Những ô trang trí tạo tác đề tài: phượng vũ, hàm thư, biểu hiện sức mạnh của mặt trời, tính quân tử, đề cao học vấn. Nhang án ngoài khá cao, bố cục dọc, mặt trên là bốn tai ngai mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Trong hậu cung đình, trên sàn gỗ cao có một ngai thờ bài vị còn ghi rõ: “Nguyễn Đại Vương thần vị”. Tại đây còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, có giá trị như: Ngai thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng, đôi lân chầu phong cách thế kỷ XVII và tượng Nguyễn Hiền ở chính giữa. Ngoài ra còn có các di vật, đồ thờ quý như bộ bát bửu, bát hương gốm, hòm sắc. Đặc biệt là bộ sưu tập 21 đạo sắc thuộc 16 đời vua ban tặng. Sắc sớm nhất có niên hiệu Khánh Đức 4 đời vua Lê Thần Tông ngày 19 tháng
3 năm Nhâm Thìn (1652), sắc muộn nhất là Khải Định 9 ngày 25 tháng 7 năm 1924. Đình Lại Đà đã qua nhiều lần trùng tu, đợt trùng tu năm 2002 - 2003 là lớn nhất. Cụm di tích đình, chùa, miếu Lại Đà được xếp hạng Di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH/QĐ/1989 ngày 05/9/1989.



