đình Liệp Mai
Nội dung bài viết
Câu chuyện điểm đến
011.Cấp xếp hạng
Đình Liệp Mai xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 47 QĐ/UB ngày 10/01/2003 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố Hà Nội
Đình Liệp Mai xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 47 QĐ/UB ngày 10/01/2003 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố Hà Nội
Trên một thế đất cao ráo, thoáng đăng ở trung tâm thôn Liệp Mai, gần đường liên xã, ngôi đình thôn Liệp Mai được xây dựng nhìn về hướng Tây có bố cục chữ đinh với các hạng mục công trình chính là Đại bái và Hậu cung, phía trước có sân và cống đình. Cổng đình Liệp Mai trước đây được xây dựng theo kiểu nghi môn trụ biểu.
Hai bên lối đi chính là hai trụ biểu đồ sộ. Trên đầu trụ đắp ô lồng đèn và tứ phượng châu cách điệu hoa dành. Giữa hai cột trụ lớn và hai cột trụ nhỏ là hai cống pháo làm theo kiếu vòm lá mái giả, đao cong. Trên đầu trụ biểu nhỏ là đôi nghê chầu với tư cách kiểm soát tâm linh khách hành hương. Cổng nghi môn này đã bị mai một do chiến tranh, hiện nay địa phương mới tu sửa lại cổng nhưng chưa hoàn thiện với hai trụ biểu chính và tường hoa bao quanh đất đai khu di tích.
Từ cổng vào qua một khoảng sân rộng là tới Đại bái đình. Nền Đại bái đình có quy mô dài 16m50, rộng 10m. Nền đình cao được bó bằng đá thanh và gạch vồ thời Lê Trung Hưng, có bậc lên xuống. Bốn mái đình rộng xoè xuống thấp lợp ngói mũi hài nhỏ. Bờ nóc, bờ dải trước đây là hàng gạch hoa chanh hoa thị thanh tú, nay được thay bằng bờ đinh. Hai đầu bờ nóc là hai con kìm (makara - rồng lá), chính giữa bờ nóc đắp trang trí lưỡng long chầu nguyệt. Tàu đao làm gỗ chạm uốn cong duyên dáng, góc tàu đao đã bị mất trang trí hình rồng cuộn.
Vào bên trong, Đại bái đình Liệp Mai được chia làm 5 gian 2 dĩ nhỏ, tương ứng với các gian là các bộ vì đỡ mái được làm theo hai kiểu thức khác nhau chút ít trên mặt bằng 5 hàng chân cột (bốn hàng cột trong bằng gỗ hoặc bằng đá tiết diện tròn, hàng cột hiên là bằng đá xanh tiết diện vuông). Chân các cột có kê chân tảng bằng đá xanh làm theo ba cấp. Cấp dưới cùng hình vuông tượng cho đất, cấp trên cùng hình tròn tượng cho trời, cấp giữa hình bát giác tượng cho tám phương theo quẻ dịch.
Các bộ vì Đại bái đình có kết cấu kiểu: thượng giá chiêng rường nách, hạ rường, bẩy hiên (hậu). Nối hai đầu cột cái theo kỹ thuật chồng đè đơn giản (kỹ thuật đặc trưng của thời Lê) là một câu đầu lớn, khoẻ có lưng và dạ phẳng, câu đầu ngoàm lấy hai đấu kê hình vuông to, dày và hơi thót đáy. Đứng trên lưng câu đầu là hai trụ trốn, đầu hai trụ trốn đỡ một rường bụng lợn, lưng rường đội thượng lương qua đấu hình thuyền. Phần hạ của hai bộ vì, nối từ thân cột cái ra đầu cột quân là các xà nách, phía trên xà nách là các rường nách đặt chồng khít lên nhau tạo mặt phẳng để khắc chạm trang trí. Bẩy hiên (hậu) ăn mộng ở đầu cột quân vươn ra ngoài đỡ hoành hạ và tàu mái.
Đỡ phần mái hồi là hệ thống chồng rường khít đặt trên các thanh xà ngang to dày. Xà có một đầu ăn mộng giữa thân cột cái, đầu kia đặt trên cột quân phía gian hồi. Phần mái dưới là hệ thống các rường nách một đầu ăn mộng vào thân trụ trốn, đầu kia đỡ hoành mái.
Lòng nhà Đại bái đình được chia làm các gian không đều nhau, gian giữa rộng 4m10, các gian bên rộng 3m70, gian dĩ rộng 1m25. Hậu cung được nối từ gian giữa Đại bái vào kéo dài ra phía sau tạo chuôi vồ (chữ đinh). Hậu cung dài 4m70, rộng 4m13 trong có làm thượng cung thờ đức Tản Viên Sơn Thánh bằng gỗ rộng 1m80, dài 4m20, cao 1m84. Ngoài Đại bái, ở gian bên hữu giáp gian dĩ khoảng trống giữa các cột cái cũng được tạo Thượng cung cao 1m95 làm nơi thờ tự ba vị Thành hoàng làng là Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba đại vương. Cung cấm thờ Tản Viên Sơn Thánh và Tam vị Thành hoàng đều được bưng ván gỗ ba mặt, phía trên có trần gỗ. Mặt trước Thượng cung mở 6 cánh cửa bức bàn, phía ngoài có diềm trang trí theo tích lưỡng long chầu nguyệt, tứ linh, hoa dây. Ở đây có hai bức hoành phi gỗ đề bốn chữ Hán “Thượng đẳng tối linh” và “Thánh cung vạn tuế”. Bên trong Thượng cung là nơi đặt long ngai, bài vị đức Tản Viên Sơn Thánh và long ngai thờ Tam vị Thành hoàng làng.
Nghệ thuật điêu khắc trên kiến trúc đình Liệp Mai được tập trung thể hiện trên toàn bộ khung nhà Đại bái. Được xây dựng ở thời điểm mà kiến trúc đình làng phát triển rầm rộ (cuối thế kỷ XVII) nên mọi thành phần kiến trúc ở đình được thể hiện đậm đặc các mô típ trang trí. Cũng như nhiều ngôi đình khác, đề tài trang trí ở đây chủ yếu là hình tượng của con vật đứng đầu trong bộ “tứ linh”: rồng. Ta có thể gặp các cảnh: lưỡng long chầu nguyệt, ngũ long, độc long, tứ linh... Các đề tài trang trí ở đây đều có chủ thể rõ ràng, tạo hình sống động, lạc quan, vui tươi. Những con rồng uy nghi, đường bệ nhưng được chạm theo lối dân gian với trán dô, mắt lồi tròn, bờm thẳng và tai to như tai voi đã khiến cho chúng trở nên hiền hậu chứ không dữ dằn như vốn có trong các kiến trúc cung đình ở thời Hậu Lê. Ngoài ra, ở đình còn có trang trí các hoạ tiết dân gian khác như: vân xoắn, mây cụm, triện tàu lá giắt...
Đình Liệp Mai là di tích tín ngưỡng dân gian rất quan trọng của một làng Việt cổ truyền thống. Đây là hai di tích không đồ sộ lắm nhưng trong kiến trúc này đã hội tụ đủ các giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học và nghệ thuật của một thiết chế tín ngưỡng làng xã cổ truyền. Những giá trị văn hoá này đã được di tích vượt ra khỏi không gian chật hẹp của làng xã để hoà nhập vào kho tàng di sản văn hoá vô giá trong tỉnh.
Về kiến trúc, đình Liệp Mai là những di tích được xây dựng từ thế kỷ XVII, được tu sửa ở thời Nguyễn nên còn bảo lưu được nhiều nét đẹp của kiến trúc nghệ thuật cổ truyền thời Lê và Nguyễn. Được quy hoạch xây dựng ở một vị trí đẹp, thuận lợi cho sinh hoạt văn hoá cộng đồng, ngôi đình và ngôi quán từ bao đời nay là nơi sinh hoạt cộng đồng không thể thiếu được đối với mỗi người dân. Đình còn là hình ảnh gợi cho mỗi người con Liệp Mai đi xa nhớ về một vùng quê đầy kỷ niệm thân thương đối với mình và như vậy dù có đi đâu, ở đâu nếu có điều kiện thì mọi người đều cố gắng để được trở về với quê hương bản quán để được tắm mình trong không gian thiêng của mỗi kỳ hội lễ và càng thêm yêu mến quê hương mình.
Về nội dung, đình Liệp Mai thờ vị thành hoàng là Đức Thánh Tản Viên Sơn, đức thánh Mẫu thân sinh ra Ngài và ba vị Đại Vương khác ở triều Hùng. Trong đời sống tinh thần của người dân thì các vị thành hoàng có một vị trí đặc biệt quan trọng. Tổ tiên ta đã coi thần là người mở đầu cho quá trình đấu tranh bền bỉ để dựng nước và giữ nước. Theo quan niệm của các sử gia phong kiến thì trong thần điện của người Việt Nam có 2 dạng thần luôn được Nhà nước quân chủ và nhân dân ngưỡng mộ giữ gìn đó là những nhân thần có công với nước như: Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Triện, Đỗ Bí, Lý Phục Man... Loại thứ hai là các vị thần có nguồn gốc tự nhiên do khí thiêng sông núi hun đúc thành thường gọi là Hạo khí anh linh như: Tản Viên Sơn Thánh, Bạch Hạc, Long Đỗ, Tô Lịch... Các vị thần này kết lại thành những anh hùng văn hoá tiêu biểu cho sức mạnh dân tộc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Phát huy truyền thống của cha ông, ngay từ những năm 1940 phong trào cách mạng đã được gây dựng và phát triển ở Liệp Mai. Được sự lãnh đạo của tổ Việt Minh nhân dân Liệp Mai đứng lên cướp chính quyền, thu triện của Lý trưởng và thành lập chính quyền mới. Thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946): “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước không chịu làm nô lệ”. Với tinh thần giàu lòng yêu nước thanh niên Liệp Mai đã lần lượt nhập ngũ với 169 lượt người. Trong kháng chiến chống Mỹ, 138 lượt thanh niên vào nhập ngũ, bình quân cứ 100 người dân có 14 người tham gia vào bộ đội. Nhiều gia đình cha đi trước con đi sau, một số gia đình có 3 đến 5 con tòng quân, có gia đình hai thế hệ là liệt sĩ. Đình được dùng làm bệnh viện điều trị thương binh đồng thời cũng là nơi sơ tán của Quân đoàn thủ đô, các cơ quan liên bắc Hà Đông. Đặc biệt phòng giao thông huyện Quốc Oai cử một tổ công tác về địa phương hoạt động và đưa đón cán bộ liên tục từ 1949 - 1954. Năm 1975 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta thắng lợi, Bắc Nam sum họp một nhà nhưng đến nay 40 người con ưu tú của dân làng vĩnh viễn không bao giờ trở về, 27 người con khác là thương binh, bệnh binh đã để lại một phần xương máu, sức lực, tuổi thanh xuân của mình tại các chiến trường, 2 bà mẹ được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Những đóng góp lớn lao đó của nhân dân đã được Tổ quốc ghi nhận, Nhà nước, Chính phủ và quân đội đã tặng nhiều bằng khen, 258 huân, huy chương cá nhân, 1 huân chương kháng chiến hạng nhất tập thể và các loại danh hiệu cao quý khác.