Đình Liễu Nội, thôn Hà Liễu, xã Thường Tín, thành phố hà Nội
Giới thiệu
Căn cứ vào tư liệu Hán Nôm, Thần tích do Viện Thông tin Khoa học Xã hội lưu giữ và đặc biệt là 05 đạo sắc phong được các triều đại phong kiến xưa ban tặng và truyền thuyết lưu truyền trong dân thôn thì đình Liễu Nội thờ thành hoàng làng là Cao vương đài vương Nguyễn Tướng Quân - một vị nhân thần có công lớn với dân, với nước. Sự tích về vị thần này có thể tóm tắt được như sau:
Từ xưa đến nay, tại địa phương vẫn thờ phụng ngài Nguyễn tướng quân hay còn gọi là Nguyễn tướng công. Ngài chính là một vị nhân thần có công lớn với dân, với nước, nhất là xã Hà Liễu xưa. Do vậy Ngài đã được nhân dân thờ phụng, muôn đời cúng tế đã lập thành quy thức không bao giờ đổi thay.
Các triều đại xưa đã gia phong và ban nhiều mỹ tự cho thành hoàng làng như: Linh thông phù tộ Dực thánh Phu hưu Phổ tế Anh uy Dũng lược Quá hóa Tồn thần Cảm ứng Hoằng mô Vũ liệt Hồng ân tuy phúc Diên hy Hoạt huống Bật khang Tán trị Hộ quốc An dân Thâm nhân Hậu trạch Sùng ân Diễn khánh Tập phúc triệu tường Bảo đại Định công Bỉnh chính Đại vương.
Căn cứ vào bản sắc phong sớm nhất hiện còn lưu giữ được tại di tích là đạo sắc phong đời vua Cảnh Hưng năm thứ 44 thì Ngài có công trong việc gây dựng tú khí cho non sông, thái ất chung đúc anh linh. Trừ tai dẹp loạn, giỏi mưu cơ giúp cả chốn bước lên xuân đài thọ vực; Ban phúc giáng ân, âm phù xã tắc giúp đất nước vững như bàn thạch thái sơn.
Theo bản sắc này đã được Viện Hán nôm dịch nghĩa cho biết thì trước đó, thành hoàng làng đã có hơn 30 mỹ tự. Chính vì vậy mà thành hoàng đã được nhân dân thờ phụng từ trước khi có đạo sắc này (năm 1783).
Vào các đời vua sau, thần đều hiển linh ban giáng phúc lành, linh thiêng giúp nước, giúp cho nhân dân có cuộc sống an lành nên đã gia phong và ban thêm nhiều sắc phong.
Đình Liễu Nội thờ Nguyễn Tướng Quân linh ứng tôn thần làm thành hoàng làng. Xét theo giá trị nổi bật nên thuộc lại di tích kiến trúc nghệ thuật tín ngưỡng dạng đình.
Đình Liễu Nội tọa lạc ở đầu làng, nhìn theo hướng Tây Nam. Trước mặt di tích là dòng sông Nhuệ chảy qua. Trước đây dòng sông Tô Lịch chảy qua địa phận thôn Liễu và Liễu Nội, Liễu Ngoại chính cùng một xã. Do địa thế và thực tế địa phương cả năm chỉ thu hoạch được 1 vụ còn lại là ngập lụt, úng. Bởi vậy, năm 1936 có sự kiện tàu "Cuốc" của Pháp xẻ sông và nắn dòng chảy, mở rộng hơn. Chính vì vậy mà có thêm làng Liễu Ngoại như hiện nay.
Đình Liễu Nội được xây dựng theo kiểu chữ nhị (=). Hiện tại, đình có các hạng mục công trình: Nghi môn, Đại bái, Hậu cung. Trong khuôn viên di tích hiện còn có hệ thống tường bao quanh, sản lát gạch bát và nhiều cây cổ thụ lâu năm tạo cho di tích một không gian thoáng đăng, mát mẻ. Nhìn từ phía xa, di tích nằm ẩn hiện sau những tán cây cổ thụ tạo nên một cảm giác cổ kính, thâm nghiêm.
Nằm sát trục đường giao thông của thôn là công trình đầu tiên của di tích: Nghi môn - nghi môn đình được làm theo kiểu thức nghi môn trụ biểu.
Trụ biểu ở đây được tạo tác với tiết diện vuông, đỉnh trụ đắp tứ phượng cách điệu hoa giành, tiếp xuống là mặt sập và ô lồng đèn. Ô lồng đèn phần bên trong được chạm tứ linh và phần thân trụ có ghi câu đối bằng chữ Hán.
Khoảng giữa bức tường bao quanh mặt trước di tích được xây bức bình phong theo kiểu cuốn thư. Bức bình phong có đắp nổi tích long hý thủy ở chính giữa. Bức bình phong này được xây dựng nhằm chắn uế tạp xâm nhập vào khuôn viên di tích.
Qua một khoảng sân lát gạch rộng 10 x 27m. Tại sân đình này có trổ các bồn nhỏ để trồng cây xanh với những tán cây to, rậm rạp tạo cảnh quan và sự thoáng mát trong khuôn viên di tích. Tiếp đó, vượt qua bậc nhị cấp bằng đá xanh, chúng ta tới tòa Đại bái. Đại bái đình Liễu Nội gồm 5 gian, tường hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ri, bờ nóc đắp bờ đinh, 2 đầu bờ nóc đắp đấu đinh, bờ chảy xây giật cấp
Vào bên trong, các bộ vì Đại bái đình Liễu Nội được làm theo 3 kiểu thức khác nhau trên mặt bằng 5 hàng chân cột gỗ. Hai bộ vì gian giữa làm theo kiểu: "Thượng giá chiêng rường nách, hạ cốn, bẩy hiên". Tại 2 câu đầu này, một bên ghi niên đại dựng đình (Hoàng triều Cảnh Hưng tứ thập nhị niên (1781)..... thụ trụ thượng lương). Căn cứ theo dòng lạc khoản này thì đình được tạo dựng từ năm 1781. Một bên ghi niên đại trùng tu lớn (Tuế thứ Canh Tý niên tu tạo - 1900). Trong đó bộ vì bên phải Đại bái còn giữ nguyên gần như tuyệt đối niên đại thời kỳ khởi dựng với các con rường chạm vân xoắn, lá lật. Bức cốn tại vì hạ được chạm khắc công phu, tỉ mỉ với các linh vật chủ yếu là rồng, lân mang đậm phong cách thế kỷ 18. Trong đó, rồng là nhân vật trung tâm được chạm khắc trên các con rường tạo tác thành bức cốn với đường nét uyển chuyển, mềm mại. Rồng chính là một biểu tượng của nước, thần nước còn hiện hữu lại, bóng dáng của tục lệ cầu-mưa, các đao, mác, vân mây tượng trưng cho sấm chớp để hòa quyện vào nhau gọi mưa về cho mùa màng bội thu...điểm xuyết vào bức cốn là các hình tượng như: Phượng, Lân, Rùa, lá sen, rồi một số linh vật nhỏ. Thời kỳ này, văn hóa dân gian đang chiếm vị trí rất lớn trong nghệ thuật chạm khắc. Rồng chính là biểu tượng cho quyền uy tuyệt đối của tầng trên, nhưng tại bức cốn này, rồng đã không giữ được sức mạnh tuyệt đối của riêng mình mà đã có sự đan xen vào đó một số yếu tố dân gian...Nhìn tổng thể bức cốn này có sự hòa quyện giữa yếu tố dân gian và yếu tố cung đình. Phượng là bầu trời nhưng mang yếu tố nữ thuộc âm, rồng là đại diện cho tầng trên, đại diện cho yếu tố nước nhưng lại mang yếu tố dương. Lân biểu trưng cho một linh vật với tư cách kiểm soát tâm linh của du khách và nhân dân vào di tích chiêm bái lễ thánh mang yếu tố dương, Rùa là một linh vật tượng trưng cho đất mẹ mang yếu tố âm. Yếu tố âm dương đan xen vào nhau đến mức hoàn hảo.
Một khía cạnh nào đó đây cũng chính là một mong ước từ xa xưa của tổ tiên chúng ta - tính đoàn kết trong cộng đồng dân cư, làng xóm. Khi tính đoàn kết được phát huy cao độ, sự cố kết cộng đồng được nâng cao thì việc chống lại kẻ thù, thiên nhiên khắc nghiệt là một vấn đề không khó.
Tiếp xuống phần vì hạ từ đầu cột quân bẩy vươn ra đỡ hoành hạ và tầu mái. Chúng tôi đánh giá cao bộ vì này, từ vì thượng, vì trung và vì hạ vẫn còn lưu giữ được dấu ấn bộ vì đặc trưng của thế kỷ XVIII. Bảy hiên ở đây được chạm khắc nhiều hoa văn họa tiết nhưng tựu trung chính là hình tượng các vật thiêng như: lân, phượng... .
Các bộ vì gian bên được làm theo kiểu thức: "Thượng giá chiêng rường nách, hạ kẻ, bẩy". Phần thượng được làm giống các bộ vì gian giữa Đại bái. Phần hạ, kẻ chuyền ăn mộng từ cột cái bên dưới câu đầu ra đầu cột quân đỡ hoành trung qua ván dong. Từ đầu cột quân bẩy vươn ra đỡ hoành hạ và tầu mái.
Bộ vì hồi được tạo tác khá đơn giản với kiểu thức: "thượng chồng . rường, hạ kẻ chuyền xà nách". Theo sự đánh giá của chúng tôi thì bộ vì này đã có sự dịch chuyển và thay đổi khi đình được tu sửa lớn vào năm Canh Tý (1900).
Hiện tại đình còn lưu giữ 04 đầu dư có niên đại tạo tác không đồng nhất. Đầu dư được tạo tác từ một súc khổ vuông thành hình đầu rồng, các đao mác bay xuôi về sau, thẳng, thon nhỏ, miệng rồng há to, mắt lồi. Hiện nay, các đầu dư này đang có dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng, địa phương cần có kế hoạch tu bổ, bảo vệ từng phần nhằm bảo lưu được các di vật có giá trị nghệ thuật cao trong di tích.
Gian giữa Đại bái được bài trí những đôi câu đối bằng chữ Hán ở các cột cái có nội dung ca ngợi công đức của thành hoàng làng, 2 bên bày các đồ thờ tự như Bát bửu, tàn lọng..., phía dưới là một sập thờ được xây bằng gạch, bên trên để đồ thờ tự. Đây là một di vật mới được tạo lập trong di tích, trước đây chỗ sập thờ đang hiện hữu sẽ là một chiếc hương án bằng gỗ chạm, khả năng do sự tàn phá của thời gian và chiến tranh nên đã bị mai một. Phía trên treo một cửa võng chia thành nhiều ô, bên trong các ô nhỏ đều được các nghệ nhân xưa lưu giữ các kiệt tác nghệ thuật như hình rồng, lân, phương, rùa, tùng trúc....Diềm trên của cửa võng này chạm hình lưỡng long chầu nguyệt, các diềm bên cũng được tạo tác hình rồng cuốn sinh động. Phần giữa cửa võng có khắc 4 chữ đại tự viết bằng chữ Hán "Thánh cung vạn tuể".
Hậu cung đình Liễu Nội có niên đại không đồng nhất với niên đại của Đại bái. Hiện tại câu đầu trong Hậu cung vẫn còn ghi niên đại khởi dựng đó là vào năm Bảo Đại Mậu Thìn (1928).
Hậu cung đình Liễu Nội là một dãy nhà ngang 3 gian 2 dĩ nằm áp sát với gian giữa Đại bái. Nhìn từ bên ngoài, Hậu cung với 2 mái chảy lợp ngói mũi nhỏ, bờ nóc, bờ giải đắp bờ đinh, 2 đầu bờ nóc đắp đấu đinh. Mặt trước Hậu cung có mở 2 tầng cửa trong đó gồm 2 cửa nách và một cửa lửng ở giữa.
Phần trên tầng cửa thứ nhất có treo một bức y môn gỗ đề 3 chữ Hán là Tối Linh từ do tuần phiên của thôn công đức làm vào mùa hạ năm Ất Tị (1905).
Tầng cửa thứ hai có treo một bức hoành phi nhỏ đề 3 chữ Hán là: Đức Chính Trung được làm năm Mậu Thìn (1928). Sau khi hoàn thành Hậu cung các cụ trong làng mới tiến hành mua, sắm các đồ thờ tự trong Hậu cung, trong . đó có một cụ cai Tuần tên là Bản cung tiến một biển thờ đề 4 chữ: mặt trước đề 2 chữ là Tĩnh Túc và mặt sau đề 2 chữ là Hồi Tị.
Hậu cung được chia làm 3 gian không đều nhau với các bộ vì được làm thống nhất theo kiểu thức : "thượng chồng rường, hạ kẻ ngồi đứng trên quá giang trốn hàng cột cái". Phía dưới gian giữa được giành không gian cho việc bài trí các đồ thờ tự và Long Ngai bài vị Thành Hoàng làng, phần bên dưới long ngai bài vị Thành Hoàng làng là một sập gỗ tương ứng với bốn chân sập và bốn trụ xây bằng gạch dùng để chịu lực nặng.
Đình Liễu Nội có thời gian tồn tại lâu dài, qua nhiều lần tu sửa nên điêu khắc, trang trí trong kiến trúc đình mang dấu ấn điêu khắc nghệ thuật của nhiều giai đoạn khác nhau. Ngôi đình hiện tại còn bảo lưu được rất nhiều giá trị nguyên gốc của thời kỳ đầu tạo dựng. Thêm nữa, đình còn bảo lưu được nhiều di vật độc đáo và quý hiếm có niên đại từ đầu thế kỷ thứ 18 cho đến nay.



