Đình Mạch Tràng
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Mạch Tràng là một trong 8 trấn của kinh thành Cổ Loa, do tướng quân Ngô Nam Tự trấn giữ. Mạch Tràng xưa có 4 xóm: Xóm Chùa, xóm Ngói, xóm Giữa và xóm Trì. Đây là một thôn có nhiều di tích lịch sử văn hóa, Nghè Mạch Tràng hay còn gọi là đình Ba Chạ vì là đình chung của 3 làng: Mạch Tràng, Văn Thượng, Ngoại sát. Trước đây trong ngày hội mồng 6 tháng Giêng hàng năm, sau khi 3 làng đến tế ở đền Thượng xong thì tụ hội tại đây làm lễ, xong rồi 3 làng mới chia nhau về làng mình. Đình Ba Chạ sau bị phá, nay các làng đều có đình riêng. Đình - chùa Mạch Tràng thuộc thôn Mạch Tràng là một trong 15 thôn, xóm thuộc xã Cổ Loa. Theo truyền thuyết, trong thời kỳ An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa và tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà, Mạch Tràng là khu vực chứa lương thảo của quân Âu Lạc. Có lẽ vì thế còn có tên gọi Mạch Dương, sau đó đến thời Ngô Quyền lại mở trường học tại thôn này, vì thế có tên gọi Mạch Tràng.
Mạch Tràng là một trong “Bát xã Loa thành”, nằm sát phía nam bên ngoài thành Cổ Loa, trên một khu đất cao ráo cạnh sông Hoàng Giang. Mạch Tràng cùng với 7 thôn khác quanh vùng này (gọi là Bát xã) được tham gia rước kiệu bát cống sang tế lễ ở đền Thượng vào ngày 6 tháng giêng hằng năm sau đó về thôn tiếp tục tổ chức lễ hội. Nhân dân ở đây có tục làm món bún xào cần vào ngày lễ ăn “sêu” bà chúa nên còn gọi là món bún bà chúa. Bún xào cần vùng Cổ Loa, đặc biệt là bún thôn Mạch Tràng có đặc trưng không thể lẫn với nơi nào khác. Đây là món ăn được nhiều người ưa thích trong dịp Tết.
Đình Mạch Tràng thờ vua Thục An Dương Vương. Đình được xây dựng ở ngay đầu làng, trên khu đất rộng khoảng 3.000m2 ở đầu phía tây thôn Mạch Tràng. Trước cửa đình là một đầm nước rộng, bên cạnh có giếng Ngọc.
Đình Mạch Tràng có niên đại khoảng cuối thế kỷ XVIII và được đại trùng tu vào năm 2001. Ngôi đình khá to dẹp, từ đường làng vào đình phải qua một nghi môn rộng kiểu tứ trụ và một sân rộng khoảng 2.000m2 được lát gạch Bát Tràng. Qua nhà tiền tế là tòa đại đình cách nhau 2m. Trong khu vực sân trước đình chếch về phía tây so với tiền tế có am thờ công chúa Mỵ Châu. Toàn bộ khu vực này đều được xây tường bao trừ nghi môn.
Mái đình rộng lớn, lợp ngói ta dày có 4 góc đao cong. Bờ nóc, bờ chảy trên mái được đắp trang trí hoa chanh, 2 đầu nóc mái trang trí đầu kìm. Tòa đại đình được xây dựng trên một nền cao 50cm so với mặt sân, bố cục kiểu chữ “đinh”. Mặt trước có hệ thống cửa bức bàn chạy suốt 3 gian giữa và bậc thềm lên xuống được lát những tấm đá xanh. Các gian bên và hồi còn lại được xây bịt và đấu với tường hậu. Kiến trúc gỗ của đình được chạm khắc trang trí tập trung nhiều vào 2 bộ vì gian giữa. Các đầu dư chạm đầu rồng với các đường nét mềm mại nhưng chắc khỏe theo lối chạm lộng, ở các thanh chồng rường đều được trang trí hình tượng “tứ linh”: rồng vờn mây, phượng hàm thư, lân nhảy múa, rùa đội hoa, đan xen là tùng, cúc, trúc, mai thể hiện bốn mùa. Gian giữa của đình có kích thước rộng nhất ngoài phần chạm khắc trên bộ vì, trần nhà còn được bưng ván có ghép khuôn tranh sơn son thẫm và thếp vàng có trang trí tứ linh, tứ quý và hình một mặt trời nổi cao ở chính giữa.
Hậu cung gồm 2 gian nối với tòa đại đình, đặt khám thờ vua An Dương Vương, sàn khám cao 1m, vách gỗ bao quanh, bên trong để ngai thờ, bài vị “Thục An Dương Vương hoàng đế”. Về trang trí nội thất, gian chính giữa ở phía trên có bức hành phi ghi 4 chữ “Hán Vạn cổ anh linh”, phía trong hậu cung có 2 bức hoành phi đề chữ “Ức niên hương” và “Thánh cung vạn tuế”.
Có một số câu đối:
Tây Thục giáng trần sơn giao cổ Nam giao hiển thánh miếu linh tân.
Tây Thục giáng trần non nước cũ Nam Giao hiển thánh miếu đền nay.
Phong Khê nhất diện uyển vương thành Hùng lược ư kim hậu hữu Âu Lạc ức niên phù bảo tộ anh linh khơi cổ sơ vô.
Một mặt Phong Khê thượng uyển vương thành Hùng triệu nay vẫn thế Ngàn năm Âu Lạc phù vận nước anh linh tỏ rõ chí xưa.
Đình Mạch Tràng có kiến trúc to đẹp, lưu giữ những mảng chạm khắc mang tính nghệ thuật cao và một số di vật quý hiếm, có giá trị mang niên đại thế kỷ XVIII - XIX. Trong số đó nổi bật nhất phải kể đến 9 đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn phong thần cho An Dương Vương vào các năm: Gia Long nguyên niên (1802), Minh Mạng thứ 2 (1821), Thiệu Trị thứ 2 (hai đạo sắc phong vào các ngày 7 tháng 8 và ngày mồng 9 tháng 9), Tự Đức thứ 3 và thứ 33 (1850, 1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909) và sắc muộn nhất có niên đại Khải Định thứ 9 (1924). Một số các di vật quý như: cuốn thần phả, đôi hạc thờ đứng trên lưng rùa, bộ đỉnh bằng đồng, 2 lưỡi phủ việt trong bộ bát bửu, chuông đồng, cây đèn đồng, ngai thờ, bài vị Thục An Dương Vương, sập thờ kiểu chân quỳ dạ cá, kiệu bát cống, bài vị, án gian, tất cả đều được sơn son thếp vàng và chạm khảm tạo tác theo phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII - XIX với các đề tài trang trí tứ linh, tứ quý. Những hiện vật đó thực sự là những tác phẩm nghệ thuật hoàn mĩ.
Di tích đình Mạch Tràng đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1962, đến năm 2012 được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia đặc biệt.



