Đình Nghĩa Lộ (Thọ Vực)
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Theo sách “Các trấn, tổng, xã danh bị lãm” viết vào thời vua Gia Long (1810 - 1819), thì xã Yên Nghĩa trước kia thuộc tổng La Nội, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai.
Đình nằm trên thế đất cao, theo hướng tây nam trông ra một hồ rộng lớn, xung quanh đình là những cây gỗ lớn. Đình có mặt bằng kiến trúc theo lối chữ “đinh”, hai bên có Tả hữu mạc. Trước đình là hai cột đồng trụ cao 7m, hai bên có cổng pháo đắp vữa giả làm bằng ngói ống có tám mái cong. Nối giữa trụ chính là cổng pháo, tường bao. Tường bao đắp nổi một bảng rồng và một bảng hổ bằng vôi vữa. Hai cột trụ hình vuông mỗi chiều 1,2m. Bước qua cổng ta tới một sân lát gạch, gạch vuông sen kẽ gạch hình chữ nhật chạy dài tới bậc thềm của đình. Hai bên sân là nhà Tả hữu mạc có chiều dài 7m, chiều cao 3,8m. Các vì kèo là kiểu bào trơn đóng bén, xà được gác lên tường, cho nên không có cột. Đại bái là công trình kiến trúc chính của di tích, từ sân bước lên Đại bái sáu bậc thềm bằng đá và lát gạch vuông 30cm x 30cm. Toàn bộ bậc đá có 53 viên, viên dài nhất 1,53m, dầy 14cm, rộng 24cm. Đại bái có lòng rộng 7m, dài 15,5m, có 24 cột. Đình là ba gian hai dĩ mái cong, xung quanh Đại bái được xây gạch để bảo vệ. Các bộ vì kèo trong Đại bái làm theo kiểu “chồng rường con nhị”, trên thượng lương có đắp hổ phù. Hai vì kèo gian giữa có bốn bức cốn được chạm bốn mặt trong và bốn mặt ngoài những con chim phượng, rồng cuốn thuỷ, rùa. Các cốn mê khác là cành trúc hoá rồng. Các bẩy hiên đều chạm lá lật và lá cách điệu thành rồng. Nhìn chung kiến trúc đơn giản, mang phong cách muộn thời Nguyễn. Trong Hậu cung là hai bộ long ngai bài vị, trong đó có một bài vị có niên đại thời Hậu Lê, một thời Nguyễn. Cả ba mâm đài và chín quả đa, một choé có hoa văn men xanh sẫm để cúng (nước cúng). Một bát hương gốm da lươn Bát Tràng, hai bát hương tròn, hai đôi nến, 2 hoành phi, 2 bộ kiệu bát cống. Đặc biệt, trong đình còn lại một bia đá cao 65cm, rộng 40cm, trên bia ghi “Hội khoa Tiến sĩ”, có khắc các dòng họ người Nghĩa Lộ đã đỗ đạt vào các đời vua Lê Thánh Tông (1463) vào năm Quang Thuận thứ 4. Đời vua Lê Hiển Tông thứ 4 (1499), đời vua Cảnh Thống thứ 2, đời vua Kính Tông (1607) và năm Hoằng Định thứ 8.
Đình Nghĩa Lộ là nơi thờ Ả Lã Nàng Đê và em trai là Quốc công. Truyền thuyết kể lại rằng: Xưa có ông Nguyễn Viên, quê ở Châu Ái ra Cổ Châu làm quan nhà Hán, ông căm thù bọn giặc tàn ác, nên ông ngầm liên kết với các lực lượng để chống lại bọn Tô Định. Nhưng cũng như Thi Sách, ông bị bọn Tô Định giết hại. Con gái lớn là Ả Lã và người con trai tên là Quốc. Khi Hai Bà Trưng truyền hịch khởi nghĩa, hai chị em chiêu mộ quân lính trong vùng kéo về tụ nghĩa ở sông Hát. Ả Lã được phong là tướng tiên phong một đạo quân. Hai chị em đã lập được công lớn trong cuộc đánh đuổi quân Nam Hán xâm lược, giải phóng đất nước. Hai Bà Trưng đã ban thưởng bổng lộc và chức tước cho hai chị em bà cho về lập ấp huyện quan ở vùng sông Đáy. Tại đây, Ả Lã và em trai cùng dân trồng dâu, chăn tằm và cấy lúa chăm lo cuộc sống nhân dân và thao luyện binh sĩ. Đến khi nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang xâm lược nước ta một lần nữa, Hai Bà Trưng thất trận, Ả Lã và em trai lần lượt hy sinh anh dũng trên sông Hát. Để tưởng nhớ công ơn của hai vị tướng giỏi, nhân dân quanh vùng đã lập đền thờ, dân làng nghĩa Lộ đã thờ bà Ả Lã và em trai làm Thành hoàng làng và là vị phúc thần của dân.
SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Nghĩa Lộ là một vùng đất sa bồi của con sông Nhị Hà do phân lưu của con sông Đáy hàng năm tải phù sa về bồi đắp nên ở đây có một vùng bãi bồi đất đai màu mỡ, cư dân tập trung đông đúc khi có làng xã tất nhiên có tôn giáo mà trong đó ngôi đình được ra đời.
Căn cứ vào cuốn Ngọc phả có ở trong đình và dựa vào truyền thuyết, kiêng kỵ thờ cúng cho chúng ta được biết ngôi đình thờ vị thần sau:
Dọc theo sông Đáy và sông Tích nhiều nơi nhân dân thờ bà Ả Lã Nàng Đê và em trai là Quốc Công. Nhiều bản thần phả dịch gọi tên bà Ả Lã Nàng Đê hoặc Ả Lã Nương Nương hoặc Ả Lã Nương Nương Đê. Song các danh từ đó viết chung một người đó là bà Ả Lã - một vị tướng tài danh dưới thời Hai Bà Trưng.
Truyền thuyết kể lại rằng: Có ông Nguyễn Viên, quê ở Châu Ái (nay là vùng Thanh Hóa) ra Cổ Châu (vùng Quốc Oai) làm quan chức nhỏ cho nhà Hán, ông căm thù bọn giặc tàn ác ông ngần liên kết với các lực lượng để chống lại bọn Tô Định. Nhưng cũng như Thi Sách (chồng bà Trưng Trắc) - ông bị bọn Tô Định giết hại. Khi ông qua đời, đã để lại vợ và hai con. Con gái lớn lên tên là Ả Lã và người con trai tên là Quốc. Ba mẹ con tần tảo nuôi nhau. Đến tuổi trưởng thành, Ả Lã đẹp người, đẹp rất và tài giỏi lạ thường. Khi Hai Bà Trưng truyền hịch khởi nghĩa, hai chị em Ả Lã chiêu mộ quân lính trong vùng kéo về tụ nghĩa ở sông Hát. Ả Lã được phong là tướng tiên phong lĩnh một đạo quân. Hai chị em Ả Lã đã lập được công lớn trong công cuộc đánh đuổi quân Hán xâm lược, giải phóng đất nước. Hai Bà Trưng ban thưởng bổng lộc và chức tước cho hai chị em bà và cho về lập ấp luyện quân ở vùng sông Đáy (Quốc Oai). Tại đây, Ả Lã và em trai là dân trồng dâu, chăn tằm và cấy lúa chăm lo cuộc sống và luyện binh sĩ. Đến khi nhà Hán cho Mã Viện đem quân sang xâm chiếm nước ta một lần nữa, Hai Bà Trưng thất trận, Ả Lã và Quốc Công đều lần lượt hy sinh anh dũng trên sông Hát. Để tưởng nhớ công ơn của hai vị tướng giỏi, nhân dân quanh vùng lập đền thờ. Dân làng Nghĩa Lộ đã thờ bà Ả Lã và em trai làm thành hoàng làng và là vị phúc thần của dân.
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh khi âm thầm, lúc công khai của nhân dân Việt Nam. Đây, là một phong trào nổi dậy của toàn quân, quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà lãnh đạo. Khởi nghĩa đã thắng lợi, đó là phong trào có tính chất quần chúng rộng rãi. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, đấy là một sự thức tỉnh tinh thần dân tộc để chống lại mưu đồ thôn tính đồng hóa của một đế chế lớn nhất Châu Á và đang trong thời kỳ hưng thịnh.
KHẢO TẢ DI TÍCH
Đình Nghĩa Lộ (xã Yên Nghĩa) là một di tích lịch sử - văn hóa có giá trị, lưu giữ nhiều dấu ấn về kiến trúc, điêu khắc và tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Theo ngọc phả bằng chữ Hán do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), đình có nguồn gốc từ rất sớm. Qua các di vật còn lại, đặc biệt là bài vị mang phong cách nghệ thuật cuối thời Hậu Lê và 11 đạo sắc phong thời Nguyễn, có thể xác định đình được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVIII và được trùng tu quy mô lớn vào năm Đinh Mão (1867).
Đình được xây dựng trên thế đất cao, quay hướng Tây Nam, phía trước là hồ rộng, xung quanh có nhiều cây cổ thụ tạo nên cảnh quan hài hòa. Mặt bằng kiến trúc theo kiểu chữ Đinh (丁), gồm đại bái, hậu cung, tả mạc và hữu mạc. Trước đình là hai cột đồng trụ cao khoảng 7 m cùng hệ thống cổng xây bằng gạch và ngói ống.
Giá trị nổi bật của đình Nghĩa Lộ nằm ở nghệ thuật trang trí và chạm khắc. Trên các cột trụ, bức cốn và vì kèo xuất hiện nhiều hình tượng truyền thống như tứ linh (Long, Lân, Quy, Phượng), hổ phù, rồng, cá chép vượt Vũ Môn, sư tử vờn cầu và các họa tiết lá lật, hoa lá được chạm khắc tinh xảo. Những hình tượng này thể hiện quan niệm về sức mạnh, sự trường tồn, may mắn và khát vọng vươn lên của người xưa.
Bên trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như long ngai, bài vị, bát hương, án gian, bộ bát bửu, lộ bộ, đại đao, hoành phi, câu đối và bia đá ghi danh những người đỗ đạt của làng qua các triều đại. Đây là những tư liệu có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa và truyền thống hiếu học của địa phương.



