Đình Nghĩa Vũ
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Nghĩa Vụ tọa lạc tại thôn Nghĩa Vũ, xã Dục Tú. Trước năm 1945, thôn Nghĩa Vũ còn có tên là trại Dẹt (Diệc). Dải đất này vốn là một bãi hoang ngập nước thuộc xã Đồng Dầu, tổng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sau này, Nghĩa Vũ là một thôn thuộc xã Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 1961, xã Dục Tú sáp nhập vào huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội và giữ nguyên tên gọi đó đến nay. Di tích đình Nghĩa Vũ được khởi dựng từ thời Lê Trung Hưng, đến năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) được tu bổ lại. Năm 1972, hậu cung bị sập do ảnh hưởng của bom Mỹ, đến năm 1976 đình được tu bổ lại và giữ nguyên kiến trúc như hiện nay. Đình thờ Thành Hoàng Nguyễn Quang Phúc (Phúc Công) hay còn được gọi là Phúc thần Đại Vương – một vị tướng có nhiều công lao thời Hậu Lê. Tương truyền Ngài là người thông minh tài năng quán triệt, sử sách tinh thông lại kiêm tài võ nghệ. Ngài dựng nhà ở khu Đông trang Thuỵ Vân, mở trường dạy võ, thường cùng dân trang đấu võ, sau ra làm quan thời Hậu Lê, được phong làm Quản thống đô hộ quốc công đại tướng quân, dẫn quân đánh giặc bảo vệ đất nước. Chiến thắng trở về, Ngài bái yết vua, vua rất mừng mở đại tiệc khao quân. Vào giờ Ngọ giữa trưa ngày 10 tháng 11 âm lịch, trời đất tối sầm, gió lốc nổi lên, Ngài nằm trong nhà rồi hóa. Vua chứng kiến cho là sự việc kỳ lạ, thương tiếc bề tôi có công khai quốc, sai các quan cùng nhân dân làm lễ điếu, nhập quan đem về quê là trang Đồng Dầu làm tang và lễ an táng. Nhà vua cho người dựng ngôi miếu thờ ở khu Triều Đông trang Thụy Vân (quê ngoại của Ngài) để thờ phụng, ban phong là Thượng đẳng Phúc thần. Đình Nghĩa Vũ tọa lạc trên khu đất tại trung tâm của làng, quay hướng nam, xung quanh đình có tường bao và nhiều cây cổ thụ, phía trước có ao rộng. Đình được xây kiểu chữ “đinh” gồm nghi môn, tiền tế và hậu cung. Nghi môn làm theo lối tứ trụ, nhìn ra ao đình được bố trí một cổng lớn ở giữa và hai cổng nhỏ hai bên, nối với nhau bằng 4 trụ (2 lớn, 2 nhỏ). Hai trụ lớn làm cân đối, dưới cùng là chân trụ đắp hoa văn lá cúc, trên thân trụ đắp câu đối, xung quanh diềm dán mảnh sứ men trắng vẽ lam, ô lồng đèn 4 mặt đắp nổi tứ linh, tầng tiếp theo đắp hổ phù và đầu rồng vươn ra 4 phía, trên cùng đắp 4 phượng chầu. Nối với 2 trụ lớn là cổng nhỏ hai bên, làm 2 tầng mái, cuốn đao, trang trí rồng mây cách điệu, trên đỉnh trang trí văn triện, trên trán đắp nổi 2 chữ Tả môn và Hữu môn. Sân đình lát gạch vuông, bên phải xây đài tưởng niệm liệt sĩ và công trình phụ trợ, bên trái là vườn cây. Tiền tế là nếp nhà 5 gian, hai dĩ, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai có trụ biểu, mái lợp ngói di, nền lát gạch đỏ. Chính giữa bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật, hai bên hồi đắp hình đầu kìm, đầu hồi đắp hình hổ phù gắn sứ... Phía trước mở hệ thống cửa gỗ ở 3 gian giữa làm kiểu cửa bức bàn, hai gian bên xây tường trổ cửa sổ hình chữ “Thọ”. Hai bên là hai trụ biểu, đỉnh trụ đắp hình lân chầu, phần ô lồng đèn đắp tứ linh. Bộ khung đỡ mái với 5 hàng chân cột. Kết cấu các bộ vì làm theo từng cặp: vì gian giữa làm kiểu thượng giá chiêng, trung cốn hạ cốn, tiền bẩy, hậu ván gió thông liền với hậu cung. Tại gian giữa chạm khắc bốn đầu dư hình rồng mắt lồi, mũi hếch, miệng ngậm ngọc, bờm râu là những đao mác bay ngược về phía sau thành nhiều lớp. Các bức cốn được tập trung ở gian giữa với kỹ thuật chạm nổi mô tả đề tài độc long cuốn thuỷ, tứ quý (thông, cúc, trúc, mai), phượng vũ, chữ Thọ. Hậu cung là nếp nhà 5 gian nối liền gian giữa tiền tế tạo thành chữ “Đinh”, bộ vì đỡ mái làm kiểu “thượng giá chiêng, trung hạ kẻ gối tường”, mái lợp ngói di, nền nhà lát gạch Bát Tràng. Bên trong hậu cung bài trí khám và tượng thờ Thành hoàng. Đình Nghĩa Vũ còn lưu giữ một bộ sưu tập đồ thờ phong phú bằng gỗ sơn son thếp vàng như: Hương án, hoành phi, câu đối, khám thờ, bài vị, tượng thánh, bát bửu, cửa võng, 2 hạc thờ lớn, ngựa thờ, hòm sắc, cuốn thư… một số đồ thờ bằng đồng, gốm sứ như: đỉnh đồng, chiêng đại, đèn thờ, hạc thờ, lộc bình, bát hương… Một bia đá niên hiệu Minh Mệnh thứ 11 (1830). Đình còn lưu giữ được bản sao 1 thần tích, 3 sắc phong của làng Nghĩa Vũ có niên đại Cảnh Hưng năm thứ 28 (1767), Tự Đức năm thứ 10 (1857), Khải Định năm thứ 9 (1924), niên đại các bản sao vào năm Bảo Đại 13 (1938). Hiện thần tích và sắc phong của đình được lưu tại Viện Khoa học Xã hội ký hiệu TTTS 3347, trang 501 – 507. Hàng năm, nhân dân tổ chức lễ hội vào ngày 10 tháng 2 âm lịch là ngày sinh của Thần. Trong lễ hội thường tổ chức tế lễ, hát quan họ và tổ chức các trò chơi dân gian. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết thôn Nghĩa Vũ có tục kết chạ với thôn Lại Hoàng và thôn Liên Đàm (xã Yên Thường, huyện Gia Lâm). Vào ngày hội làng, các làng chạ đều mời đoàn đại diện của chạ anh, chạ em đến dự hành lễ tại đình làng. Sau đó, cùng rước kiệu Thánh của làng mình đến đình làng mở hội sinh Thánh rồi rước kiệu Thánh về lại đình làng. Đình Nghĩa Vũ được xếp hạng là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố theo quyết định số 7533/QĐ-UBND ngày 12/12/2013.



