Đình quay hướng tây nam; phía trước có hai dãy tả hữu mạc, phía sau là tòa đại đình mặt bằng hình chữ Đinh ("chuôi vồ") gồm ba gian hai chái đại bái và bốn gian hậu cung. Kiến trúc kiểu đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói liệt, bờ nóc đắp vữa hai lớp; hai đầu bờ nóc đắp kìm lớn hình đầu rồng miệng ngậm bờ nóc, trán có mào nhọn, mắt lồi, mũi sư tử. Góc bờ dải bên phải đắp nghê chạy xuống, bên trái nghê chạy ngang; góc mái cong ba lớp với tượng nghê nhỏ, văn xoắn và hình rồng; bờ mái trang trí văn lá đề, hoa dây chữ triện.
Nội thất đại bái gồm bốn bộ vì, bốn hàng chân cột: hai vì giữa kiểu "thượng giường – hạ bẩy", hai vì bên kiểu "thượng cốn – hạ bẩy"; cột gỗ tròn "thượng thu hạ thách" đặt trên chân tảng trụ tròn. Hai gian bên có sàn gỗ, lan can gỗ cao 0,87 m so với nền lát gạch Bát Tràng – nơi cắm đồ lỗ bộ và chỗ ngồi của các giáp khi hội họp. Hai bên chái đặt tám khám thờ lớn sơn son thếp vàng – hiện tượng ít thấy ở các đình cổ, phản ánh tổ chức chín giáp theo dòng họ của làng Ngự Câu xưa. Hàng giáp có hai giáp nhất, một giáp nhì, một giáp ba, một giáp bốn, hai giáp năm và hai giáp sáu .Các cấu kiện đều được chạm khắc dày đặc từ đầu bẩy, xà nách, cốn nách, đầu dư đến câu đầu, vì nóc.
Đình còn bảo lưu bộ di vật nhiều chất liệu: đồ giấy (thần phả sao 1919, 14 đạo sắc phong); đồ gỗ (kiệu bát cống, bộ lỗ bộ, đôi hạc thờ, nhang án, ngựa thờ, long ngai bài vị, các đôi câu đối sơn son và khảm trai, chín bức đại tự, ba bức nghi môn…); đồ đồng (chuông, chiêng, cây quán tẩy, bộ thất sự, bộ tam sự…); đồ sứ (bát, ấm, chóe vẽ lam, có hai bát sứ thời Thanh); đồ vải (hai áo long cổn thiết triều, hai tán lớn) và một bộ sừng hươu.
Đình Ngự Câu hiện thuộc thôn Ngự Câu, xã An Khánh, thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 20 km về phía tây.
Đình thờ ngũ vị Đại Vương – Thành hoàng làng, trong đó có Vua Bố Đại Vương (tên gọi Đỗ Thẩm) có công giúp Thục An Dương Vương đánh đuổi quân Tần. Theo thần phả sao năm Khải Định Kỷ Mùi (1919), năm vị là con của ông Đỗ Thiện cùng hai bà vợ họ Kim, họ Chu; khi giặc Tần xâm lấn, các vị chiêu mộ 300 dũng sĩ theo vua Thục đánh giặc, khiến tướng giặc Nhâm Hưu (Nhâm Ngao) trúng tên độc bỏ chạy, quân giặc đại bại. Sau khi các vị hóa, vua Thục ban sắc phong thần, cấp tiền dựng đền miếu thờ cúng. Từ đời Lê Cảnh Hưng đến cuối đời Nguyễn, các triều đại đều ban sắc phong; đình hiện còn giữ 14 đạo sắc, sớm nhất là sắc đời Cảnh Hưng năm thứ 28, năm Mậu Tý, muộn nhất là sắc đời Khải Định năm thứ 9 (1924).
Đình có từ lâu đời; quy mô hiện nay là kết quả lần trùng tu lớn thời Nguyễn, thế kỷ XIX, trong đó sàn gỗ, lan can là vết tích ngôi đình thời Lê. Đây là ngôi đình tiêu biểu của kiến trúc nghệ thuật thế kỷ XIX, kết hợp kiến trúc Bắc Bộ với phong cách trang trí cung đình Huế. Lễ cầu quốc thái dân an của làng tổ chức theo các ngày lễ, mừng ngày sinh, ngày hóa của thần. Đặc biệt vào ngày 12 tháng Giêng, làng tổ chức đám hội để tưởng nhớ công đức của Thành hoàng làng.
Đình Ngự Câu đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1990.
Trong đình làng Bắc Bộ, Tam Quan đình (nghi môn) là hạng mục mở đầu, phân định không gian sinh hoạt thường nhật của làng xóm với không gian thiêng thờ thành hoàng – một "ngưỡng cửa" tâm linh nhắc nhở cộng đồng giữ thái độ tôn nghiêm khi vào đình. Tam Quan đình thường gặp hai dạng: nghi môn tứ trụ với bốn trụ biểu xây gạch tạo ba lối đi, đỉnh trụ đắp phượng chụm đuôi hoặc nghê chầu, thân trụ đắp câu đối chữ Hán; và nghi môn dạng cổng có mái. Theo lệ xưa, lối chính giữa chỉ mở dịp lễ hội để rước kiệu thánh, ngày thường dân làng ra vào hai lối bên – cách phân định phản ánh trật tự lễ nghi làng xã truyền thống. Tam Quan đình còn định vị trục thần đạo của di tích, phía trước thường nhìn ra ao đình, giếng nước – yếu tố "tụ thủy" mang ý nghĩa tụ phúc.
Sân đình là khoảng không gian mở giữa Tam Quan đình và tòa đại bái; tại đình Ngự Câu, sân nằm phía trước tòa đại đình, hai bên có hai dãy tả hữu mạc. Đây là không gian đa công năng của làng xã truyền thống: về nghi lễ, là nơi đoàn rước kiệu tập kết, các giáp sắp lễ vật, đội tế hành lễ trước cửa đại bái – tại đình Ngự Câu là nơi tổ chức lễ cầu an theo ngày sinh, ngày hóa của năm vị Đại Vương; về hội hè, là "sân khấu" của các trò chơi, diễn xướng dân gian như đấu vật, cờ người, hát cửa đình; về sinh hoạt cộng đồng, xưa là nơi họp bàn việc làng, ngày thường là chỗ gặp gỡ, hóng mát của dân làng. Sân đình Bắc Bộ thường lát gạch Bát Tràng hoặc gạch chỉ, mặt sân thoải dần ra ngoài để thoát nước; khoảng sân rộng tạo khoảng lùi để nhìn trọn mặt đứng tòa đại bái.
Nhà đại bái là kiến trúc lớn ba gian hai chái. Gian giữa có ba bộ cửa bức bàn chạm các đề tài hoa dây "tứ quý", "tùng lộc", "mai hạc", "trúc lão hoa điểu". Các cấu kiện chạm khắc phong phú: đầu bẩy chạm mặt rồng; thân bẩy ghép đề tài "tứ linh", "tứ quý", "trúc hóa long"; xà nách chạm "liên áp", "nho sóc", "long hạc", cuốn thư, phượng chầu; cốn nách chạm "rồng nghê", "rồng ổ", "rồng cuốn thủy"; tám đầu dư chạm nổi, chạm thủng hình rồng; cuốn thượng vì nóc chạm hổ phù với các đầu rồng nhỏ chầu vào; nóc gian giữa có trần sơn son thếp vàng vẽ gương bát quái.
Tiêu biểu là mảng chạm "thủy đình" trên vì trái gian giữa (đình hai mái, cầu vồng, ngựa leo cầu, thuyền buông chèo trên ba lớp sóng); mảng "tam quy – thất hạc" (bảy hạc chầu mặt nguyệt, ba rùa vượt sóng, chòm sao thất tinh) và mảng chín hình lân ("lân ổ"), mỗi con một vẻ. Bốn bức đại tự trên bốn khám thờ bên tả ghi "Thủy hữu nguyên – Mộc hữu bản – Kim tại phạm – Thổ cư trung" (Nước kia có nguồn – Cây kia có gốc – Kim loại trong khuôn – Đất thời ở giữa), nhắc đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Cuối gian giữa đặt hương án sơn son thếp vàng, chạm sen rồng, cuốn thư, hổ phù, phượng, tứ linh; hai bên là đôi hạc thờ đứng trên lưng rùa.
Hậu cung bắt đầu từ hai cột quân bên gian giữa đại bái, chia làm hai gian lớn ở giữa và hai gian hai bên, ba vì kiểu chồng giường, bốn hàng chân; hai cột giữa gỗ tròn "thượng thu hạ thách" trên chân tảng đá, cột quân thay bằng tường gạch bao. Trước hậu cung có hai bức cửa võng thếp vàng, riềm trên chạm "lưỡng long chầu nguyệt", riềm bên chạm "rồng cuốn thủy", rồng chầu; nghi môn nằm lọt trong cửa võng ngoài, khắc bốn chữ Hán "Thành cung vạn tuế".
Trong cung thờ đặt bài vị trên long ngai sơn son thếp vàng; long ngai đặt trên sập thờ chạm chân quỳ dạ cá, rồng, hoa dây "âm dương", rồng nghê; tay ngai đặt trên sáu thanh chống hình thân trúc, trang trí các đôi đầu rồng. Bài vị không có chữ, trên làm hình mặt nguyệt, riềm trang trí văn hoa dây. Trong đình vẫn còn dấu tích hầm nuôi giấu các đồng chí hoạt động cách mạng thời kỳ năm 1947-1950.