đình Nhân Lý, thôn Nam Phương,xã Xuân Mai, thành phố Hà Nội
Giới thiệu
Đình Nhân
Lý là di tích được UBND tỉnh Hà
Tây xếp hạng tại Quyết định số 2713/QĐUB ngày 31/12/2003. Lịch sử ghi lại
theo cuốn sách Thần Phả do Đông các Đại học sĩ Nguyễn
Bính phụng soạn năm Hồng Phúc nhị niên (1573);,
và quản giám Bách thần Trị Diện Hùng Lĩnh Thiếu Khanh, Nguyễn Hiền hiện đang
lưu giữ tại di tích cho biết Ngôi Đình Làng thờ Quý Minh Đại Vương. Thời hùng
vương thủ 18 cuốn Thần Phả viết có tộc Trưởng tên là Tuấn Xương, vợ là Phạm Thị
Hương thuộc gia đình quý tộc đức độ Chuyên làm điều thiện và rộng lòng với mọi
người, nên nhân dân trong vùng quý mến. Ông bà sinh được người con trai vào
ngày mồng 10 tháng giêng năm Giáp Thìn, tướng mạo khác người, thông minh lanh
lợi, lớn lên giỏi thao lược, văn võ song toàn, có hiểu với cha mẹ lên đặt tên
con là Quý Minh. Khi đó, cơ đồ đất nước truyền đến đời thứ 18 được 2622 năm
thuộc đời Hùng Duệ Vương có giặc ngoại xâm, vua Hùng kêu gọi người hiền tài ra
đánh giặc giúp nước. Quý Minh tâu với nhà vua xin được đi đánh giặc, Nhà vua
nhất trí phong Ngài chức Thống Đốc Đại Quân quản hơn 30.000 binh lính đi đánh
giặc Thục. Ngài cùng binh sỹ đánh Đông dẹp Bắc, lập nhiều chiến công. Khi qua
làng Nhân Lý thì trời tối, Ngài cho quân sỹ nghỉ ngơi, thấy nơi đây là vùng đất
Sơn Thủy Hữu Tình ông liền lập đồn binh, cùng binh sỹ và nhân dân khai phá
ruộng hoang, lập lên một vùng quê trù phú. Ngoài việc cấy lúa nước Ngài còn dạy
cho dân bách nghệ trăm nghề. Đó là biểu hiện của văn hóa thời kỳ dựng nước. Sau
này khi Ngài qua đời, dân làng tưởng nhớ đến công lao to lớn, suy tôn Ngài làm
Thành Hoàng Làng. “Quý Minh Đại Vương thành hoàng làng Nhân Lý là anh hùng
chống giặc ngoại xâm, cũng là anh hùng trị thủy tài tình ở miền quê đồng trũng
sông nước này”. Hàng năm, lấy ngày 17/Giêng âm
lịch là ngày Hội làng để tưởng nhớ công lao của Ngài đối với nước, với dân,
trong đó có dân làng Nhân Lý ngày nay. Đình làng qua các triều đại đã có
sắc phong Thượng Đẳng Thần, Các đạo sắc phong của
đình do các triều vua, bắt đầu từ thời Hậu Lê do vua Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông)
phong năm 1748. Vua Chiêu Thống năm 1786. Vua Tự Đức năm 1852, 1882. Vua Đồng
Khánh năm 1886. Vua Duy Tân năm 1908, và cuối cùng là Vua Khải Định năm 1924.
Các đạo sắc phong trên được công nhận là tài liệu lịch sử, hiếm, quý giá hang
trăm năm theo dòng lịch sử của đất nước.



