Đình Nhạn Tái, xã Thư Lâm
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Đình Nhạn Tái thuộc thôn Nhạn Tái, xã Thư Lâm. Sở dĩ làng có tên Nhạn Tái vì nằm trên một thế đất hình chim nhạn đang sải cánh bay về hướng đông, đầu ngoái trở lại về phía sau. Cái tên Nhạn Tái mang một ý nghĩa sâu xa mà người xưa muốn để lại cho các thế hệ mai sau rằng hãy luôn luôn vươn lên phía trước, nhưng đừng bao giờ quên tiên tổ, cội nguồn của chính mình. Lịch sử lập làng Nhạn Tái đến nay không còn rõ, song dựa theo truyền tích dân gian và hệ thống di tích hiện còn thì có thể đoán định rằng, làng Nhạn Tái đã ra đời từ rất lâu. Điều này được thể hiện qua hệ thống các di tích kiến trúc cổ như đình, đền, chùa, miếu hiện còn tồn tại, ở đó lưu giữ nhiều nét kiến trúc, nhiều di vật có giá trị là ngôi đình của làng.
Khu vực Xuân Nộn cũ là vùng đất có lịch sử ra đời và phát triển từ rất sớm. Người dân nơi đây từ xa xưa đã có truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo và tinh thần yêu quê hương đất nước. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp nổi tiếng nhất có ông Đốc Biểu cùng 36 trai đinh làng Nhạn theo nghĩa quân của phong trào Cần vương... Trong khu vực Xuân Nộn trước đây, Nhạn Tái là một thôn lớn và ở vào vị trí trung tâm. Làng có hai xóm mang tên Nhạn Đình và Nhạn Đường. Đất Nhạn Tái xa xưa là khu vực rừng rậm gọi là Nguyệt Lâm, chạy dài từ Khe Vạn (Nguyên Khê ngày nay) qua làng Nhạn đến khu rừng Đào Xá (Đào Thục) nối liền với khu rừng núi Sài (Thụy Lâm) với Thất Diệu sơn có đủ loại cầm thú chim muông.
Đình Nhạn Tái thờ 6 vị thành hoàng, đó là: Cao Sơn đại vương, Quốc Vương Thiên Tử Nhã Lang, Ả Lã Nàng Đê, Tiến sĩ Đỗ Nhuận và hai vị phúc thần không rõ tên chính, chỉ ghi mỹ tự là Sùng Nghiệp An Dân đại vương và Cảm Ứng Uy Linh đại vương. Sở dĩ đình thờ nhiều vị như vậy vì có một thời gian, đền và nghề của làng hư hỏng, không có điều kiện sửa chữa nên nhân dân đã tập trung bài vị, bát hương của các vị thần về đình để thờ chung.
Vị thần có lịch sử lâu đời nhất và được ghi lại trong cuốn thần phả hiện còn tại đình là Cao Sơn đại vương. Ông là một nhân vật quan trọng trong điện thần của người Việt trước đây, là một trong số những vị thần thuộc hệ thống thần thoại về thời dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc ta. Vị thần thứ hai được thờ tại đình là Quốc Vương Thiên Tử Nhã Lang. Ông đã có công trong việc gây dựng và bảo vệ vương triều Lý trong thời Lý Nam Đế. Sau khi dẹp xong loạn Tam vương, ông lại cầm quân đi đánh giặc Chiêm Thành. Bình được phương Nam, vua Lý ban ấp cho ăn lộc ở huyện Đông Ngàn và sau khi mất, ông lại được vua Lý sắc phong cho làm phúc thần và được phụng thờ ở nhiều nơi. Ả Lã Nàng Đê là vị nữ thần duy nhất được thờ tại đình. Bà là người đã tập hợp dân binh theo hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định và đã hy sinh. Sau khi mất bà được nhiều nơi lập miếu thờ, trong đó có làng Nhạn Tái. Vị thần thứ tư là một nhân thần, đó là Tiến sĩ Đỗ Nhuận. Ông sinh năm 1436, năm 31 tuổi đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Bính Tuất, đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466), ông mất năm Hồng Đức thứ 26 (1495) thọ 59 tuổi.
Sau khi đậu Tiến sĩ, ông đã có nhiều đóng góp cho nền văn hóa nước nhà. Với làng quê Nhạn Tái, ông là người có công khai sáng truyền thống văn hóa và là người đã giúp dân dựng lên chùa Chủ và chùa Rừng, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và nét đẹp văn hóa dân tộc của người dân nơi đây. Hai vị đại vương còn lại chỉ có duệ hiệu được ghi trên bài vị, sắc phong, không rõ lai lịch và công tích, song cũng là những vị thần có công giúp nước, giúp dân, được các triều đình phong kiến tặng để phụng thờ mãi mãi. Đình và ngôi Nhạn Tái xa xưa từng là nơi tập luyện võ nghệ của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám vì Nhạn Tái có 36 tráng sĩ tham gia phong trào kháng Pháp của cụ Đề Thám.
Nếu dựa vào lịch sử lập làng và tên tuổi các vị thành hoàng thì có thể đoán định di tích đình Nhạn Tái được khởi dựng từ khá sớm, còn nếu như căn cứ vào tư liệu thành văn hiện còn thì chắc chắn ngôi đình đã được xây dựng từ thời Hậu Lê, trước thời điểm xuất hiện đạo sắc phong thần niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783).
Đình trước kia quay theo hướng bắc, về sau chuyển hướng nam. Việc chuyển hướng đình gắn liền với sự kiện làng Nhạn có 36 người theo nghĩa quân Đề Thám, điển hình là Đốc Biểu (Ba Biểu) mà bọn thực dân gọi là “giặc Biểu”. Đồng thời với việc chuyển hướng đình, bọn thực dân còn đào xẻ ngang dọc trong làng để cắt long mạch “đất làm giặc”. Đây cũng là lần trùng tu lớn mà đến nay còn biết được. Lần trùng tu lớn gần đây nhất và để lại vẻ đẹp như kiến trúc hiện nay là vào năm 1923. Nguyên do vào khoảng năm 1912 đình bị cháy, thiệt hại khá lớn. Sau đó đến năm 1923 thì dân làng đã đầu tư đóng góp để sửa chữa lại và đến năm 1925 thì khánh thành. Hiện tại trên thượng lương của đình có dòng chữ “Hoàng triều Khải Định bát niên tuế thứ Quý Hợi thập nhị nguyệt sơ tứ nhật” (Ngày mùng 4 tháng 12 năm Quý Hợi niên hiệu Khải Định thứ 8 - 1923).
Đình Nhạn Tái hiện tọa lạc trên một khu đất thoáng rộng thuộc xóm trên. Đình quay mặt về hướng nam, phía trước là một sân gạch với nhiều cây cao bóng mát, bên ngoài tấm bình phong trước đình là một ao sen rộng với cảnh quan thoáng mát và nên thơ. Ngôi đình còn nguyên vẹn cả về quy mô, kiểu dáng kiến trúc bên ngoài lẫn những đồ thờ tự có giá trị ở bên trong. Đình có mặt bằng chữ Đinh, bao gồm đại đình ở phía trước và hậu cung nối phía sau. Phần nóc đình làm kiểu bốn mái, các mái trải dài và lợp ngói mũi hài, bốn góc đao uốn cong vút nhẹ nhàng với hai mũi ngắn dài đắp nổi hai đầu linh vật là quy, phượng. Chính giữa nóc mái đắp nổi đôi rồng lưng uốn cong mềm mại, chầu vào mặt trời lửa với những đao nhọn vút lên. Các bờ dải của nóc đình được trang trí gạch hoa chanh và đắp nổi thành hình bốn con sấu trong tư thế hướng về nóc mái. Đại đình gồm 5 gian, 2 chái với mái đao cong, chắc khỏe, bề thế, vững chắc. Trang trí trên kiến trúc tập trung chủ yếu ở các bộ vì, trên các cốn và đặc biệt là hệ thống đầu dư, đầu nghê được chạm lộng trong một khối chắc khỏe với hình đầu rồng mắt lồi, mũi mở, mồm ngậm ngọc được tạo tác công phu, tỷ mỷ. Các bức cốn của đình được trang trí đậm đặc với các đề tài truyền thống như: tứ linh (long, ly, quy, phượng). Các bức chạm ở đây được bố cục rất hài hòa, hợp lý, thể hiện rõ tài năng khéo léo tuyệt vời của các nghệ nhân xưa, đồng thời giúp cho bộ khung gỗ trong tòa đại đình trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát hơn. Phía trên chính giữa tòa đại đình là một mảng giếng còn nguyên vẹn sơn son thếp vàng lộng lẫy, trang trí các hình văn cánh, bốn góc có hình dài và ống quyền, sắc bút rất đẹp, các hình này có tính chất đề cao sự học hành đỗ đạt theo quan niệm Nho giáo xưa.
Trải qua một quá trình tồn tại lâu dài, lại phải chịu nhiều biến động thay đổi của lịch sử, xã hội và những tác động của thiên nhiên, đình Nhạn Tái không còn giữ được nguyên vẹn vẻ cổ kính ban đầu của kiến trúc cũng như những di vật đồ thờ có từ lâu đời. Song khối di vật hiện còn lưu giữ khá phong phú, đa dạng và mang những giá trị nhất định về các mặt lịch sử, nghệ thuật, góp phần làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ cho kiến trúc của ngôi đình. Đáng chú ý là cuốn thần phả được sao lại vào thời Khải Định viết về thần Cao Sơn đại vương, một vị phúc thần thời Hùng Vương, ngoài ra còn một số tư liệu bằng chữ Hán viết về các vị thành hoàng làng. Đặc biệt là 03 đạo sắc phong thần, trong đó có 01 sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783), 01 sắc phong Thiệu Trị 4 (1844), 01 sắc phong niên hiệu Tự Đức 2 (1849). Các sắc phong này đều có nội dung ca ngợi công đức các vị thần và cho dân làng Nhạn Tái được phụng thờ mãi mãi. Các di vật đồ thờ bằng gỗ khá đa dạng như hoành phi, câu đối, hương án thờ, cửa võng, kiệu bát cống, ngai thờ, bài vị... đều được sơn son thếp vàng. Hệ thống di vật của đình là bộ sưu tập hiện vật có giá trị, góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu nghệ thuật dân gian của dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau.
Cũng như hầu hết các di tích lịch sử khác của xã Thư Lâm, đình Nhạn Tái là nơi thờ các vị phúc thần, danh nhân có nhiều công lao trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Để tỏ lòng tri ân đến các vị phúc thần, hàng năm tại đình Nhạn Tái lễ hội được tổ chức vào ngày 16 tháng Giêng (tết Nguyên tiêu). Trong đó có thực tế lễ mang tính truyền thống cùng những nghi thức thể hiện lòng kính trọng biết ơn các vị thành hoàng làng và mang đậm bản sắc dân tộc. Ngoài sân treo cờ thần tung bay trong gió, các trò chơi vui tươi, lành mạnh như: đấu vật, tuồng, chèo, ca xẩm, ca trù, cờ người... Dưới ao trước đình có sân khấu rối với đủ loại hình như: rối văn, rối võ, rối cày bừa, đánh đàn... Không khí vui tươi đầm ấm, đúng như câu ca dao còn truyền lại:
Hội xuân mở trước sân đình
Dưới ao có rối rập rình nhấp nhô
Tùng tùng trống vật trên bờ
Véo von ca xẩm, ca trù trên sân.
Với những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học nghệ thuật, đình Nhạn Tái được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng xếp hạng tại Quyết định số 3951 QĐ/BVHTT/1997 ngày 20/12/1997. Trong tương lai, di tích đình Nhạn Tái sẽ cùng với hệ thống các di tích, lễ hội dân gian độc đáo, nổi tiếng trên địa bàn xã Thư Lâm, trong đó có các lễ hội gắn với khu vực Xuân Nộn trước đây như lễ hội kéo lửa, nấu cơm thi của thôn Lương Quy, lễ hội kén rể của thôn Đường Yên, lễ hội kéo rắn của thôn Xuân Nộn, trở thành những địa chỉ du lịch hấp dẫn của xã Thư Lâm và Thủ đô Hà Nội.