Đình Hạ Đoàn Xá
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
1.Loại hình và Xếp hạng: Là di tích Lịch sử - Kiến trúc - Nghệ thuật. Được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số 2277/QĐ-BVHTTDL ngày 28/06/2016 công nhận và xếp hạng là Di tích cấp Quốc gia.
2. Nhân vật thờ phụng và Giá trị lịch sử
Nhân vật thờ phụng: Di tích thờ hai vị Đương cảnh Thành hoàng thượng đẳng thần thời Hùng Vương. Đình Thượng thờ Báo Đức Đại vương (Thống chế thượng tướng đại thần); Đình Hạ thờ Huệ An Đại vương (Tổng thống ngũ quân đại tướng/Hành ngũ đạo đại tướng quân).
Thần tích: Hai vị thần là anh em sinh đôi, con của Cao Minh Vương và Lê Thị Đồng. Dưới thời Hùng Vương thứ 6, hai ngài đã vâng mệnh vua đi dẹp giặc Ân. Sau khi đánh thắng giặc, hai ngài đóng quân và hóa tại trang Đoàn Xá. Ngoài ra, địa phương còn thờ hai vị nữ thần là Quốc mẫu Vua Bà (Đệ nhất tiên cung công chúa) và Quế Hoa đệ nhị công chúa.
3. Đặc điểm Kiến trúc - Nghệ thuật
Quy mô và Bố cục: Đình tọa lạc độc lập trên khu đất rộng, quay hướng Nam, có ao đình phía trước. Hai ngôi đình Thượng và Hạ chung một lối vào, kiến trúc giống nhau (kiểu chữ Đinh gồm Tiền tế và Hậu cung), mái đao cong của Đình Thượng ghé sát mái Đình Hạ như biểu tượng tình anh em gắn kết.
Đình Thượng:
Đại đình (Tiền tế): Gồm 3 gian 2 chái, 4 mái đao cong uốn lượn như mũi thuyền. Kết cấu 6 hàng chân cột lim, cột cái đường kính 70cm, trên thân cột còn khắc niên đại "Chính Hòa thứ 17 (1696)" và có dấu vết ván sàn (đặc trưng đình sàn thời Lê).
Nghệ thuật điêu khắc: Vì kèo kiểu "thượng vì kèo trụ nọc, hạ chồng rường cốn, bẩy hiên". Các đầu dư chạm đầu rồng với đao mác chải ngược mang đậm phong cách thời Lê Trung Hưng. Gian giữa có các bức cốn chạm hình rồng ổ (rồng mẹ và đàn rồng con), cốn các gian bên chạm tứ linh, hổ phù.
Đình Hạ:
Tiền tế và Hậu cung: Gồm 3 gian Tiền tế và 2 gian Hậu cung nối tiếp kiểu chuôi vồ. Điêu khắc tập trung ở cốn mê phần hiên với các đề tài tứ linh, tứ quý mang phong cách thời Nguyễn.
4. Hệ thống Di vật, Cổ vật
Hai đình bảo lưu được hệ thống di vật phong phú, chủ yếu từ thế kỷ XIX (thời Nguyễn).
Đình Thượng: 02 bức hoành phi ("Duy nhạc giáng thần", "Cảnh phúc hật hưởng"), hương án sơn son thếp vàng chạm tứ linh, câu đối lòng máng, kiệu tay bành chạm rồng tinh xảo, ngai thờ, bát hương, hòm sắc, đài nước. Đặc biệt có hệ thống sắc phong (như sắc năm Duy Tân 3, Khải Định 9, Thành Thái 1).
Đình Hạ: Ngai thờ, hạc thờ bằng gỗ và đồng, mâm bồng, bát hương sứ, hòm sắc.
5. Lễ nghi phụng sự
Thời gian: Lễ hội làng diễn ra từ mùng 9 đến 11 tháng Giêng âm lịch (chính hội là mùng 10). Ngoài ra có các ngày lễ: mùng 1-2 tháng 5 (ngày sinh của thần), 20 tháng 9 (ngày hóa), 10 tháng 3 (tiên giáng).
Nghi thức: Lễ hội bao gồm lễ Mộc dục, dâng lễ vật (xôi, thủ lợn), đọc văn tế ca ngợi công đức tiên tổ và các tuần tế (thượng hương, dâng rượu).
6. Công tác bảo vệ và Khoanh vùng di tích
Theo biên bản ngày 31/08/2012 và bản đồ (tờ số XN5-12-931 năm 2012), do di tích nằm trong khu dân cư đã quy hoạch, cơ quan chức năng thống nhất chỉ khoanh vùng Khu vực bảo vệ I.
Tổng diện tích bảo vệ I (Bất khả xâm phạm): 2.094,3 m2.
Ranh giới: Phía Bắc giáp đê sông Đáy; phía Nam giáp ao làng; phía Đông giáp đường bê tông và thổ cư; phía Tây giáp đường đất.
Mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong khu vực đã khoanh vùng đều bị nghiêm cấm nếu không được phép của cơ quan có thẩm quyền.



