Đình Nhuệ Giang, thôn Hiền Giang, xã Thường Tín, thành phố Hà Nội
Giới thiệu
Đình Nhuệ Giang có lịch sử xây dựng từ khá sớm, trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, đến nay đình không còn giữ được những tư liệu ghi rõ năm khởi dựng. Để xác định niên đại tương đối cho sự có mặt của ngôi đình, có thể dựa vào các căn cứ sau: Theo các cụ cao tuổi trong làng thì đình Nhuệ Giang được xây dựng từ rất lâu trên mảnh đất này. Trên thượng lương gian giữa đình còn ghi dòng lạc khoản "Thành Thái cửu niên nhị nguyệt sơ ngũ nhật lương thời tu tạo thụ trụ thượng lương đại cát"-ngày 5 tháng 2 năm Thành Thái thứ 9 (1897) tu tạo di tích. Mộc bản ghi chép lai lịch, công tích của vị Thành Hoàng làng thờ có ghi năm Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái (1898) in sao lại từ bản thần tích ghi niên hiệu Hồng Phúc thứ 2 (1573). Đình có 06 đạo sắc phong cho Thành Hoàng làng thờ và đức Thánh Mẫu có niên đại Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924) (gần đây hệ thống sắc phong của đình đã bị thất lạc). Bên cạnh đó còn có rất nhiều đồ thờ tự như long ngai, hương án, cửa võng, hoành phi, câu đối...mang phong cách của nghệ thuật thế kỷ XIX, XX.
Như vậy, qua các cứ liệu nói trên, chúng ta có thể nhận định di tích đình, Nhuệ Giang ít nhất được khởi dựng ở thế kỷ XVIII. Sau đó đến năm Thành Thái thứ 9 (1897) di tích đã được trùng tu sửa chữa và khắc dòng lạc khoản trên thượng lương.
Tồn tại đến nay di tích đã trải qua nhiều lần trùng tu sửa chữa cụ thể vào năm Thành Thái thứ 9 (1897). Đầu thế kỷ XX di tích đã được tu bổ nhưng không có tư liệu ghi lại vào những năm nào. Những năm gần đây đình được tu bổ: Năm 2000 di tích được tu bổ: thay thượng lương nhà đại bái và tu bố thêm phần nền, sân, tường bao, cổng đình...
Đình Nhuệ Giang hiện toạ lạc trên khu đất rộng về phía Bắc của làng rộng trên 1.358,9 m2. Từ mặt đường của đê sông Nhuệ qua một cây cầu nhỏ là vào đến di tích. Các bộ phận cấu thành di tích bao gồm: Cổng đình, sân đình, phía trước là một số cây tạo cảnh quan và bóng mát, tiếp theo là kiến trúc chính của đình theo lối chữ nhị bao gồm Đại Bái và Hậu cung. Phía sau đình là chùa của làng; nằm về phía trước bên bờ đê sông Nhuệ là ngôi miếu thờ bà Vương Thị Ngọc là mẹ của Thành Hoàng làng. Theo các cụ địa phương cho biết đình Nhuệ Giang xưa được xây theo hướng Đông Bắc phía ngoài của đê Sông Nhuệ. Do ảnh hưởng của dòng sông Nhuệ dân làng chuyển đình về mảnh đất được gọi là đắc địa mang hình "con rùa" gần với khu vực cư trú của thôn làng. Đình được xây theo hướng Tây Bắc cống mở về phía trước, sân đình rộng, hai bên là hai dãy tảo mạc, đình được xây theo kết cấu kiến trúc truyền thống, toàn bộ cửa làm theo kiểu bức bàn, được nhân dân gìn giữ cho đến ngày nay. Đến nay hai dãy tảo mạc không còn, hệ thống cửa đã có sự thay đổi, xin được mô tả hiện trạng ở phần sau:
Mở đầu của khu di tích là nghi môn xây hai trụ liền tường bao, tiếp theo là tường nối cánh phong. Trụ xây vuông, đỉnh trụ đắp hình 4 chim phượng đầu quay bốn hướng, đuôi chụm vào nhau tạo thành hình chái giành thân trụ tạo khung ghi câu đối. Qua cổng là một khoảng sân rộng lát gạch, trước sân đắp cuốn thư liền với tường bao thấp của đình, hai bên cuốn thư xây trụ, đắp nghê .2 Đại Bái: gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, phía trước có 2 trụ biểu vuông, đỉnh trụ đắp nghê chầu, tiếp theo là phần lồng đèn có các ô trang trí hình tứ linh (long, ly, quy, phượng), phần thân trụ tạo vuông. Mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, hai đầu kìm đắp đấu nắm cơm tạo cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng cho công trình kiến trúc. Nhà xây trên nền cao hơn mặt sân 25 cm xung quanh bó vỉa gạch, phía trước xây hai bậc lên nền nhà.
Kết cấu kiến trúc bốn hàng chân cột gỗ đỡ mái theo kiểu "thượng thu - hạ thách", các cột gỗ đặt trên chân đá tảng hình vuông chôn chìm xuống nền, nền nhà làm kiểu lòng thuyền, gian giữa làm thấp hơn các gian bên 25 cm, lát gạch vuông và một phần là gạch chỉ. Kết cấu bộ vì làm theo kiểu "thượng chồng rường giá chiêng, tiền kẻ hậu bẩy", riêng hai vì gian giữa làm kiểu vì "cốn" cả trước và sau. Các vì bên làm kiểu kẻ trường, tiền kẻ hậu bẩy. Phía trước mở ba cửa gỗ kiểu ghép ván. Nội thất nhà Đại Bái được để trống tạo không gian thoáng rộng cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Kết cấu kiến trúc hiện nay của đình theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, thế kỷ XIX, XX, được nhận biết qua các đề tài trang trí rồng hóa lá thanh thoát, khoáng đặt trên các ván mê, thanh xà và các đầu bẩy hiên.
Hậu cung: Hậu cung được làm song song với toà Đại Bái gồm có 5 gian đầu hồi xây bít đốc, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, hai gian hồi làm ban thờ hậu, ba gian giữa được chia làm hai lớp, phía ngoài thờ các quan, phía trong hậu cung làm ban thờ Thành Hoàng. Kết cấu bộ vì theo kiểu "vì kèo quá giang cột trốn" đặt trên 4 cột gỗ và tường xây bổ trụ, Giữa hậu cung xây bệ bố trí ban thờ Thành Hoàng làng. Nền nhà lát gạch vuông. Hậu cung được làm 3 cửa: gian giữa làm cửa kiểu bức bàn và chạm nổi hoa văn trang trí chủ đề tứ quý, văn triện; hai gian bên là cửa nhỏ làm lối đi vào hậu cung.
Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc và điêu khắc được tập trung tại toà Đại Bái thể hiện trên các bức cốn nách, con giường, đầu bẩy, đấu kê... chạm nổi hình rồng mây, rồng lá, phượng vũ, vân mây, sóng nước, long hóa, cúc lão....
Với nét chạm nổi, chạm bong kênh, trên đầu, thân rồng, Các vân mây cuộn, sóng nước thể hiện chau chuốt ...



