Đình Nội
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Nội nay thuộc xã Bình Minh
thành phố Hà Nội, xưa thuộc xã Bảo Đà, tổng Bảo Đà, huyện Thanh Oai, phủ Ứng
Thiên, trấn Sơn Nam Thượng; sau này là làng Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh
Oai, tỉnh Hà Đông (năm 1965 là tỉnh Hà Tây, năm 1975 là tỉnh Hà Sơn Bình, năm
1992 lại trở về tính Hà Tây), từ tháng 8/2008 đến nay, là làng Bình Đà, xã Bình
Minh, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Đình Nội được xếp hạng di tích Quốc
gia năm 1985.
Đình Nội nằm trên thửa đất ở
trung tâm, nơi thờ Đức quốc tổ Lạc Long Quân, nên còn có tên chữ là Lạc Long
Quân từ. Theo các cụ cao niên, Đình Nội được xây dựng từ lâu đời, tuy nhiên, những
dấu tích về kiến trúc và vật liệu xây dựng của các thời Lý, Trần, Lê đến nay
không còn.
Hiện nay, những công trình kiến
trúc nghệ thuật của đình Nội đều làm vào thời Nguyễn. Mặt bằng tổng thể ngôi
đình gồm có cổng ngoài, nhà cầu Quếch, ao sen, cổng ngũ môn, nhà tả mạc, hữu mạc,
phương đình, nhà đại bái và hậu cung.
Những công trình phụ là cổng
ngoài, nhà cầu Quếch, ao sen, cổng ngũ môn, nhà tả mạc, hữu mạc là một hệ thống
hạng mục kiến trúc nằm bên ngoài. Trong khuôn viên cây xanh có những cây quéo,
cây trôi vài trăm năm tuổi. Phía ngoài có cổng trụ đèn lồng mới được làm năm
2010 có ý nghĩa làm ranh giới khuôn viên khu di tích, nên gọi là cổng ngoài.
Qua cổng ngoài là vào sân đình
tương đối rộng, đã lát gạch đỏ, thẳng đường chính đạo có bức bình phong làm
theo kiểu cuốn thư. Bức bình phong được coi là ranh giới, ngăn ngừa những điều
không tốt lành ảnh hưởng đến đền.
Tiếp đó là ao sen hình con dấu của
Đức quốc tổ Lạc Long Quân. Quy mô ao rất cân xứng với tổng thể khu đình. Ao thả
sen, nuôi đàn cá cảnh được gọi là cá thần. Bên phía trái có nhà cầu Quếch,
tương truyền là nơi trình diện trước khi vào lễ. Ngôi nhà có ba gian nhỏ, xây
tường bao quanh đầu hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói mũi.
Qua nhà trình và ao sen là vào cổng
ngũ môn với năm cửa ra vào đền. Chính đạo là ba cổng làm theo lối tam quan, xây
như một ngôi nhà ba gian hẹp mở ba cửa: cửa chính rộng, còn hai cửa phụ hẹp
hơn. Ngôi nhà xây tường hồi bít đốc tay ngai có hai cột trụ biểu lồng đèn trang
trí tứ linh và chim phượng trên đỉnh, hai mái chảy lợp ngói mũi. Trên bờ nóc đắp
hai con kìm, ở giữa là nậm rượu lớn. Hai bên là hai cổng phụ xây hai tầng cổ
diêm có bốn mái đao cong, giữa trổ cổng vòm mai cua là lối ra vào hằng ngày.
Những công trình chính của khu
đình gồm nhà phương đình, nhà tả mạc và nhà hữu mạc, nhà đại bái và nhà hậu
cung. Nhà phương đình nằm theo trục chính đạo qua cổng chính ngũ quan. Đó là
ngôi nhà hình vuông, không xây tường, chỉ có tứ đại trụ (bốn cột lớn) cùng bốn
cột góc với những bộ vì chồng rường gọng vó tám mái đao cong. Trên bờ nóc đắp
phù điêu lưỡng long chầu nguyệt, chỗ gấp khúc có tượng lân chạy ngược chiều.
Hai bên phương đình là sân lát gạch
đỏ, có hai ngôi nhà chạy song song đăng đối nhau gọi là nhà tả mạc và nhà hữu mạc.
Hai ngôi nhà này đều có ba gian, tường xây gạch hai đầu hồi bít đốc. Trên tường
hồi trổ chữ “Thọ”, phía trên đầu nóc hình vuông, mái chảy lợp ngói mũi. Kiến
trúc khung nhà hai hàng chân cột, những bộ vì kiến trúc theo kiểu thức giá
chiêng kẻ bẩy.
Tiếp đến là ngôi nhà đại bái và hậu
cung có mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Đinh. Hai ngôi nhà này đều xây tường gạch,
đầu hồi bít đốc, mái chảy lợp ngói mũi. Kiến trúc bộ khung nhà đại bái và hậu
cung còn nguyên thời Nguyễn với bốn hàng chân cột bộ vì kiến trúc theo kiểu thượng
giá chiêng con nhị, chồng rường kẻ bẩy. Điêu khắc trên kiến trúc thể hiện các đề
tài tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng và tứ quý: Cúc, Trúc, Thông, Mai với phong
cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Đình Nội còn lưu giữ một số hiện
vật có giá trị như bộ kiệu bát cống sơn thếp vàng son rực rỡ, án thư chạm trổ
sơn thếp có nhiều lớp trang trí nghệ thuật rồng phượng, đôi hạc, bát bửu, bát
hương…
Đặc biệt, ở đình còn lưu giữ được
bức phù điêu giá tượng Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân với nhiều lớp hình ảnh được trạm
khắc, truyền ngôn: Dài 2,8 mét, rộng 2,2 mét, 5 tầng; đầu 20 vị quan văn mặc áo
thụng, tay cầm hốt, đầu đội mũ cánh chuồn; 16 vị quan võ cân đai bố tử hùng
dũng, quắc thước, cầm long đao; 18 thị nữ áo dài nếp mỏng mềm mại dâng hòm sớ với
cờ quạt, tàn, tán, ô, lọng; có voi, ngựa và nhóm dân binh đội mâm dâng hoa quả;
dòng nước mênh mang hiện lên những con thuyền rồng cong mũi đang rẽ sóng lao nhanh;
từng thuyền rồng các cặp đôi hai hàng trai tráng, mình trần khỏe mạnh, gò mình
mải miết tay chèo; nổi bật chiếm phần tư diện tích là chân dung tượng Lạc Long
Quân ngự trên ngai vàng, đầu đội vương miện chạm lưỡng long chầu nguyệt, khoác
áo hoàng bào vóc dáng bệ vệ, khuôn mặt hiền từ, phúc hậu, thể theo 36 quý tướng
nhà Phật.. toát lên đầy đủ cảnh sinh hoạt thuộc về triều đại Hùng Vương.
Tục truyền, bức phù điêu được khởi dựng từ thời nhà Đinh, khi Đinh Tiên Hoàng lên làm vua đã cho xây đền Thượng tại Phong Châu để thờ các vua Hùng với mỹ tự “Hùng Vương sơn nguyên Thánh Tổ, người đã giao cho Hoàng hậu Đan Gia và Đinh Quốc công Nguyễn Bặc đặc trách, cùng với Bộ Lễ tuyển các thợ giỏi để chế tác bức phù điêu này”. Căn cứ vào tác phẩm điêu khắc nghệ thuật cổ này các nhà nghiên cứu đánh giá cao về ý nghĩa lịch sử vị thần được thờ là Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân.



