Đình Phù Xá Đoài
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Thôn Phù Xá Đoài, xã Nội Bài, Thành phố Hà Nội
Đình Phù Xá Đoài tọa lạc trên một khu đất ở phía tây làng Phù Xá Đoài, quay hướng nam ghé tây, phía trước là sông Cà Lồ. Tên gọi "Phù Xá" xuất hiện từ thế kỷ XV: theo văn bia và sách sử, ông Phù Thúc Hoành - người làng, giữ chức Hàn lâm học sĩ, Tế tửu Quốc Tử Giám dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460–1497) - đã xin vua cho đổi tên làng Nôm cũ (hay còn gọi làng Nam) thành Phù Xá cho thanh lịch hơn; bà Ngô Chi Lan, vợ ông Phù Thúc Hoành, nữ sĩ nổi tiếng văn hay chữ tốt cùng thời, cũng góp phần xây dựng quê hương.
Đình Phù Xá Đoài thờ Thành hoàng làng là Đô thống Quốc Tá Vương Lê Phụng Hiểu – một vị quan võ trung thành với nước, danh tướng nổi tiếng đầu thời Lý và hai vị hậu thần Lê Huy Đằng và Lê Khắc Hy. Đô thống Quốc Tá Vương Lê Phụng Hiểu quê ở làng Băng Sơn (nay thuộc xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa), sức khỏe phi thường, được tuyển vào quân túc vệ trong cung từ đầu thời vua Lý Thái Tổ, được cất nhắc lên chức Vũ vệ tướng quân, thống lĩnh quân sĩ của triều đình. Năm 1028, khi ba vương Dực Thánh, Vũ Đức, Đông Chinh làm loạn tranh ngôi vua Lý Thái Tông, Lê Phụng Hiểu được vua trao toàn quyền dẹp loạn, bảo vệ ngôi báu; vua phong ông chức Đô thống thượng tướng quân - chức võ quan cao nhất, tổng chỉ huy quân đội thời Lý - cùng tước Hầu. Năm 1044, dưới thời Lý Thái Tông, ông làm tướng tiên phong đánh dẹp Chiêm Thành, giữ vững bờ cõi phía Nam. Các đời vua Trần về sau tiếp tục gia phong ông là Đô thống khuông quốc vương, Đô thống khuông quốc tá thánh vương. Do có nhiều công lớn trong việc ổn định triều đình giữ yên bờ cõi của nước nhà, ông đã được triều đình, nhà vua ban thưởng cho nhiều tước hiệu và đất đai mà truyền thuyết thác đao điền vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Ông hóa thần ngày 4/4 âm lịch, hưởng thọ 77 tuổi. Để ghi nhớ những công lao to lớn của ông đối với triều đình, với đất nước, triều đình đã cho phép nhiều nơi thờ phụng ông. Làng Phù Xá Đoài là một trong số rất ít nơi ở Hà Nội còn phụng thờ Lê Phụng Hiểu làm thành hoàng.
Không chỉ là một di tích cổ kính, Đình Phù Xá Đoài còn ghi dấu nhiều sự kiện cách mạng: những năm đầu chính quyền cách mạng (từ tháng 8/1945) đình thường xuyên là nơi sinh hoạt, hội họp của chính quyền và các đoàn thể nhân dân; các năm 1954–1955 dùng làm kho thóc thuế nông nghiệp của tỉnh Phúc Yên, sau đó làm trường học; từ 1958–1962 tổ chức các lớp bổ túc văn hóa – kỹ thuật nông nghiệp toàn tỉnh; giai đoạn 1965–1967 là trại an dưỡng thương bệnh binh, trạm giải phẫu quân đội và nơi đặt kho vũ khí của sân bay chiến đấu Nội Bài; năm 1967 có đoàn chuyên gia Liên Xô về giúp đỡ, được bố trí đóng tại đình. Đặc biệt, đúng mồng 1 Tết nguyên đán Đinh Mùi (09/02/1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm hỏi, chúc Tết chuyên gia Liên Xô và cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại đình.
Hiện nay niên đại xây dựng đình chưa được xác định rõ, nhưng lần trùng tu, sửa chữa lớn nhất trong lịch sử diễn ra vào năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776). Do chiến tranh phá hoại và thiên tai hỏa hoạn, đặc biệt là trận thủy tai năm Duy Tân thứ 7 (1913), nhiều bộ phận kiến trúc của đình đã bị hư hại. Sau đó nhân dân đã trùng tu và mở rộng quy mô, kiến trúc của ngôi đình. Lần trùng tu gần đây nhất là hoàn thành năm 2025. Đình còn giữ được nhiều di vật quý như năm bộ long ngai bài vị, ba bộ kiệu bát cống, bốn bia đá và một chuông đồng. Đặc biệt là đình có một bức cuốn thư bằng đá xanh lớn với các họa tiết chạm khắc tinh xảo.
Với những giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, Di tích đình Phù Xá Đoài được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 2009/QĐ ngày 15/11/1991 của Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao.
Cổng đình được dựng theo lối trụ biểu (cột đồng trụ) quen thuộc của kiến trúc đình làng Bắc Bộ, gồm hai trụ biểu lớn xây gạch, mặt cắt vuông, thân trụ quét màu xanh xám, vươn cao làm khung cho lối vào chính. Đỉnh mỗi trụ thu nhỏ dần thành hình lồng đèn nhiều tầng, trên cùng đắp đôi nghê chầu vào nhau theo thế đăng đối; phần lồng đèn và cổ trụ đắp nổi hoa văn, bên dưới là các ô hộc và những vế câu đối chữ Hán chạy dọc thân trụ, nội dung ngợi ca công đức của thần và truyền thống của làng. Giữa hai trụ biểu đặt bộ cửa sắt hai cánh, khung và nan uốn tạo hoa văn cách điệu, vừa bảo vệ vừa giữ được sự thông thoáng cho tầm nhìn từ ngoài vào. Qua khung cổng, trục thần đạo mở thẳng: trước tiên là khoảng sân rộng lát gạch, tiếp đến là bức cuốn thư đá đặt giữa sân, rồi đến tòa tiền tế và đại đình phía trong, tạo chiều sâu và sự tôn nghiêm cho tổng thể. Hai bên cổng nối với hệ tường bao và trụ phụ thấp hơn, khép kín khuôn viên di tích. Nằm ở đầu trục chính, cổng đình vừa là ranh giới phân định không gian thiêng với không gian đời thường, vừa là điểm nhấn kiến trúc mở đầu, định hướng cho toàn bộ bố cục mặt bằng của di tích quay về hướng nam nhìn ra sông Cà Lồ.
Từ cổng vào là sân đình rộng, mặt sân lát gạch (đá) vuông cỡ lớn, ghép mạch thẳng đều, xen kẽ những phiến sẫm màu tạo nhịp cho nền sân; đây là không gian tụ họp, hành lễ và mở hội của cộng đồng làng trong các dịp lễ tiết. Chính giữa sân, trên trục thần đạo nối cổng với tòa đại bái, đặt một bức cuốn thư (bình phong), hiện vật quý và tiêu biểu của di tích, được làm vào năm 1914 thay cho cuốn thư cũ bị hỏng do nạn lụt năm Quý Tỵ (1893). Cuốn thư ghép bằng đá xanh khối lớn, hai bên là hệ trụ vuông trên đỉnh tạc toàn phần hình một con sư tử; mặt phải có hai cánh phong được chạm nổi đôi hổ chầu cùng hình tứ quý non bộ; chính giữa là hình cuốn thư có gấp cuốn hai bên, tạc nổi hệ tứ linh long, ly, quy, phượng sống động, cầu kỳ; hai cánh cuốn của cuốn thư tạc nổi hình tứ quý xen các văn chữ Thọ nổi. Phía dưới tạo kiểu gỗ sập có chân quỳ, hàng riềm chạm hình long hóa, phía trên là hình chạm nổi toàn thân long chầu nguyệt. Đặt giữa sân, bức cuốn thư vừa có ý nghĩa như một bình phong che chắn, giữ khí cho công trình chính theo quan niệm phong thủy, vừa là mảng điêu khắc đá đặc sắc làm điểm nhìn trung tâm cho toàn sân. Bao quanh sân là cây xanh và hệ thống cột đèn chiếu sáng; qua sân, các bậc thềm dẫn lên tòa tiền tế, khép lại lớp không gian mở đầu trước khi bước vào khu vực thờ tự chính.
Tiền tế là tòa nhà nằm ngang phía trước, đứng trước tòa đại đình, là nơi sửa soạn, bày biện đồ tế và cử hành các nghi lễ dâng hương của làng. Tòa được làm theo lối nhà mở: mặt trước để thông thoáng, không xây tường bưng mà chỉ có một hàng cột hiên bằng gỗ, thân cột tròn bào trơn, kê trên chân tảng, nhờ đó người hành lễ từ sân có thể nhìn suốt vào bên trong. Bộ mái lợp ngói ta màu đỏ nâu, dốc thoải, bờ nóc và hai đầu kìm đắp gọn, các góc mái tạo đao vươn nhẹ theo thức mái đình truyền thống, dáng bề thế mà thanh thoát. Trước thềm tiền tế, trên trục chính, bày một lư hương (đỉnh) đá lớn chạm nổi, hai bên là đôi đèn đá và những chậu cảnh, điểm thêm đôi voi đá chầu ở bậc lên, tạo không khí trang nghiêm cho lối vào. Nền tiền tế tôn cao hơn mặt sân, có các bậc thềm đá dẫn lên; lòng nhà thông với gian giữa của đại đình phía sau, hình thành một trục hành lễ liền mạch từ ngoài vào trong. Với vị trí và công năng của mình, tiền tế trong bố cục đình làng Bắc Bộ đảm nhận vai trò “nhà tế” — không gian chuyển tiếp giữa sân mở và tòa đại đình khép kín, nơi diễn ra phần lớn các hoạt động tế lễ trước khi vào bái vọng Thành hoàng ở tòa trong.
Tòa đại đình có 7 gian 2 dĩ, xung quanh là hàng hiên rộng, bốn mái với bốn góc đao cong vừa phải, các gian bố trí không đều nhau. Toàn bộ khung đại đình gồm 60 cột, chủ yếu bằng gỗ lim, kích thước không đều — cột cái ở trung tâm to nhất, đường kính tới 50cm, các cột quân nhỏ hơn, cột hiên khoảng 35–45cm; các chân cột đều kê tảng đá xanh chôn chìm dưới nền gạch. Ba gian giữa được làm cửa; riêng gian chính giữa cửa lớn cũ hết gian có bánh xe, các gian bên và dĩ là tường gạch cổ lắp trấn song thoáng phía trên, tường xung quanh xây chồng gạch tạo thoáng. Nền đại đình cao vừa phải, được lát toàn bộ bằng gạch, mái lợp ngói mũi hài.
Thiết kế theo kiểu 6 hàng chân, 10 vì kèo, mỗi vì đủ 6 cột, rất chắc chắn, khỏe, cân đối. Các vì đều theo một kiểu thiết kế thống nhất: thượng giá chiêng, trung xà chồng rường, hạ là bẩy kẻ hiên; một số vì phía sau có bụng cốn. Hai vì có thiết kế giống nhau với sự kết hợp của các xà ngang, dọc và chạy chéo tạo nên các hệ thức tam giác vuông chắc khỏe, các xà ngang dọc đỡ mái đao cong gối trên 4 cột đá ở 4 góc đình. Ở hai gian đại đình có xây tụt làm thành hai am thờ nhỏ.
Hầu hết các đầu dư của đình đều chạm khắc trang trí đầu rồng theo các kỹ thuật chạm lộng, bong kênh, trổ thủng, chạm nổi và bán tròn — sinh động, đa dạng, mang dấu ấn rõ nét của nghệ thuật thế kỷ XVIII. Nét đặc trưng của các đầu dư là đuôi tóc lan tỏa, gấp khúc hình chữ S kéo dài về phía sau; thân rồng được tạo theo kiểu "rồng yên ngựa", cuộn vòng thân cả ở bên trong lẫn bên ngoài, xung quanh là bờm râu tóc lan tỏa. Các đầu dư có dáng vẻ và cách đặc tả khác nhau: có con vảy thân trơn, có con làm ngấn cổ; chân rồng tạo dữ với các ngón thò vòng ra giữ râu tóc hoặc ôm lá đề; mõm trên làm thưa loe ra, mắt hếch, mồm ngậm ngọc.
Các mảng chạm trên xà chồng chủ yếu là đề tài rồng chạm nổi kết hợp hệ tứ linh (long, ly, quy, phượng) và tứ quý; đôi chỗ chạm thêm hình chim thú tự nhiên như hươu, nai, chuột theo lối cách điệu đơn giản — có thể là sự lưu tồn của nghệ thuật thế kỷ trước mà nghệ nhân còn lưu luyến khắc lên đình. Đặc biệt, hai cột cái của vì trung tâm chạm hai hình hổ phù mang yếu tố đặc sắc thời Hậu Lê: nổi u cao là mảng bờm tóc xếp lan tỏa, mắt lồi, mũi sư tử, miệng loe rộng răng nhe ngậm ẩn chữ Thọ, dưới ấn là lá đề ba cánh — cầu kỳ gắn liền vào thân cột, ít thấy ở các ngôi đình khác. Phía hậu của đình còn làm cốn ván bưng trổ hai cốn ở cạnh, chạm xà chồng với các hình chạm chủ yếu là tứ linh, đôi chỗ chạm hình phượng vờn mây, rồng cuốn thủy kết hợp cùng chép hóa long; hai đầu hồi hậu cung đắp hai hình hổ phù, mật kèm thuốc vẽ, tăng thêm vẻ đẹp cho ngoài đình.
Nhà thiêu hương nối đại đình với hậu cung có 3 gian với 3 vì kèo: vì giữa có hai cột riêng, hai vì hai bên gối lên đại đình và cột của hậu cung, kết cấu kiểu "thượng giá chiêng, hạ bẩy" — cột ngồi trên trụ tròn để xà nách gối tường, xà nách lớn gối trên cột hiên đại đình và cột phụ của hậu cung. Vì giáp danh giữa thiêu hương và hậu cung được bưng kín bằng cốn mê, trên dưới làm cửa bức bàn nhỏ trên tường trước khám thờ hậu cung.
Giữa nhà thiêu hương, từ trong ra đến cột cái ngoài đại đình, được xây thành một bục thờ cao hơn nền đại đình 80cm, lát gạch thành ban thờ chung của đình; hai bên là hai lối đi thấp như nền đại đình, đến hậu cung có xây cấp đi lên. Trong kiến trúc đình làng vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhà thiêu hương (còn gọi là ống muống hay nhà cầu) thường là hạng mục nối liền tòa đại đình với hậu cung, có chức năng làm không gian đệm để dâng hương, đặt đồ tế khí trong các kỳ lễ trọng; do quy mô nhỏ, kết cấu đơn giản hơn đại đình, đây là nơi chuyển tiếp giữa không gian sinh hoạt cộng đồng phía ngoài và không gian thờ tự tôn nghiêm phía trong.
Hậu cung có nền cao bằng bục gạch của nhà thiêu hương, gồm 3 gian 4 vì kèo với 16 cột, các cột nhỏ như cột hiên của đại đình. Kết cấu 4 hàng chân làm kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai; các vì làm theo kiểu thượng giá chiêng hẹp, trung kẻ trường, hạ bẩy hiên gối tường. Ở 4 cột trung tâm và chạy ra đến cột giáp ranh nhà thiêu hương được quây ván kín thành khám thờ; bên dưới bố trí lát ván kín, cao cách nền tới 1,55m, phía ngoài có hai bậc, bậc ngoài thấp hơn bậc trong 20cm. Với nền tôn cao hơn hẳn các hạng mục khác và hệ thống ván kín quây kín gian giữa thành khám thờ, hậu cung thể hiện rõ tính chất linh thiêng, biệt lập — chỉ bậc cao niên hoặc người có trách nhiệm tế lễ mới được vào hành lễ trực tiếp trong những ngày thường.
Không gian nhà thiêu hương và hậu cung của đình Phù Xá Đoài hiện còn lưu giữ khá đầy đủ hệ thống đồ thờ tự cổ: 4 sắc phong thời Nguyễn; 2 hoành phi, 3 bia đá, 4 đôi câu đối gỗ; 5 ngai thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng đẹp, còn đầy đủ các bộ phận tay ngai, ý, mâm — trong đó 3 ngai có niên đại sớm hơn, 2 ngai làm vào thế kỷ XIX; 2 bài vị, hai mũ cổ; hai bộ kiệu bát cống gồm đủ đòn, long đình mái luyện bằng gỗ sơn son thếp vàng, chạm khắc rất cầu kỳ, đặc sắc nghệ thuật thế kỷ XIX; hai học gỗ nghệ thuật thế kỷ XIX; hai hương án đặt ở ban trung và hạ, chạm các họa tiết trang trí đẹp ở xung quanh, nhất là mặt tiền và mặt hậu, nghệ thuật thế kỷ XIX; một quả chuông đồng đúc năm 1927, một chiếc khánh đúc năm 1924; một sập thờ kiểu chân quỳ dạ cá; cùng đôi voi chầu cốt gạch bọc vôi mật đặt ngoài sân, và một số chân tảng đá xanh kê cột chạm họa tiết lá đề nghệ thuật thế kỷ XVIII.
Nhà bia liệt sĩ là công trình tưởng niệm nằm trong khuôn viên di tích, được xây dựng để tri ân các anh hùng liệt sĩ của địa phương đã hy sinh vì Tổ quốc. Nhà bia làm kiểu nhà nhỏ một gian, mặt bằng vuông vắn, bốn phía để trống; bộ khung gồm bốn cột tròn quét màu trắng, chân cột tạo dáng đài sen, đầu cột và các đường gờ chỉ đắp màu ghi xám. Mái lợp ngói đỏ, bờ nóc đắp gọn và gắn lá cờ Tổ quốc; trán mái phía trước gắn tấm biển nền đỏ chữ vàng “TỔ QUỐC GHI CÔNG”, hai bên đắp nổi mô típ vân mây cách điệu. Chính giữa nhà, trên một bệ đá hoa cương, dựng tấm bia lớn bằng đá đen: đỉnh bia khắc hình Quốc huy, thân bia khắc chìm thếp vàng danh sách các liệt sĩ của làng cùng dòng tiêu đề trang trọng. Phía trước bia đặt bát hương, lọ hoa và mâm lễ để nhân dân dâng hương tưởng niệm. Nền nhà tôn cao, có bậc tam cấp đá dẫn lên, xung quanh lát gạch đỏ và có tường hoa thấp bao quanh, cây xanh tỏa bóng, tạo không gian trang nghiêm mà ấm cúng. Việc bố trí nhà bia liệt sĩ ngay trong khuôn viên đình thể hiện sự tiếp nối truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, gắn kết không gian thờ Thành hoàng với đạo lý tri ân những người con của quê hương đã ngã xuống trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.
Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt trong một khuôn viên riêng, trang nghiêm và rợp bóng cây xanh, gắn với ý nghĩa lưu niệm về Người tại vùng đất này. Trên trục chính, một sân hành lễ lát gạch đỏ trải dài dẫn tới khu tượng; cuối sân là các bậc cấp bằng đá dẫn lên bệ tượng. Bệ tượng tạo khối chữ nhật vững chãi bằng đá hoa cương màu sẫm, mặt trước gắn biển tên; trên bệ là tượng Bác Hồ trong tư thế đứng, một tay giơ cao vẫy chào — dáng vẻ gần gũi, thân thương mà toát lên khí thế lạc quan, tin tưởng. Trước bệ tượng bài trí một lư hương (đỉnh) đá lớn để dâng hương; hai bên bố trí đôi đèn đá, các chậu cảnh và hệ thống cột đèn chiếu sáng dáng cầu tròn, làm cho khu tượng đài vừa tôn nghiêm vừa hài hòa với cảnh quan. Bao quanh khuôn viên là những tán cây cổ thụ và tường bao quét màu sáng, tạo lớp nền xanh mát, yên tĩnh, tôn thêm sự uy nghi cho tượng đài. Khu vực này gợi nhắc dấu ấn lịch sử đặc biệt của đình Phù Xá Đoài — nơi đúng mồng 1 Tết Đinh Mùi (09/02/1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm hỏi, chúc Tết đoàn chuyên gia Liên Xô cùng cán bộ, chiến sĩ ta đang làm nhiệm vụ tại đình; bởi vậy, tượng đài Người trong khuôn viên di tích không chỉ là công trình tưởng niệm mà còn là biểu tượng nhắc nhớ về sự kiện lưu niệm quý giá gắn với Bác.
Với hệ thống di vật cổ được bảo lưu cùng quy mô kiến trúc bề thế, đình Phù Xá Đoài được đánh giá là một trong những ngôi đình có quy mô kiến trúc to đẹp của xã Nội Bài và là một trong những di tích có kiến trúc quý, đẹp của Hà Nội, gắn liền với việc phụng thờ danh tướng Lê Phụng Hiểu.
Lễ hội đình Phù Xá Đoài được tổ chức vào ngày 12/10 âm lịch hằng năm để ăn mừng vụ mùa thắng lợi. Lễ hội thường được tổ chức vào 3 ngày (chiều ngày 11 làm lễ mộc dục, ngày 12 ngày chính hội, 13 là lễ tế giã). Dưới chế độ phong kiến, lễ rước kiệu chỉ rước ra hội Tam tổng theo quy định của Tam tổng (tổng Phù Xá, tổng Phù Lỗ và tổng Xuân Nộn). Ngày nay, theo hương ước của làng quy định 5 năm tổ chức rước kiệu quanh làng 1 lần để tạo không khí ngày hội truyền thống và cầu mong cho dân an, vật thịnh. Trước ngày hội, đình được quét dọn, bao sái đồ thờ trang nghiêm; đến ngày chính hội, các bậc cao niên và đại diện dòng họ trong làng tề tựu về đình làm lễ tế Thánh, dâng hương, dâng lễ vật, ôn lại công đức của Ngài với dân với nước. Phần hội thường diễn ra sôi nổi với rước kiệu, tế lễ cùng các trò chơi, sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, thu hút đông đảo nhân dân và con em xa quê trở về. Hội làng vừa là dịp cố kết cộng đồng, vừa thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", gìn giữ và trao truyền nét đẹp văn hóa của quê hương.