Đình Phúc Hậu
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Phúc Hậu thờ Tam Lang đại vương, một công thần lớn của thời Lý. Theo ngọc phả thì Tam Lang là con Lý Khánh Văn, Lý Khánh Văn là cha nuôi của Lý Công Uẩn. Tam Lang đại vương đã có công trong vụ loạn Tam vương của Đông Chính vương, Dực Thánh vương, Vũ Đức vương giúp thái tử Phật Mã (Lý Thái Tông) lên ngôi vua. Tam Lang được phong thực ấp ở vùng Hậu Trại (nay là Phúc Hậu). Sau khi ông mất, ông được dân làng Phúc Hậu thờ phụng, vì miếu thờ ngày xưa không còn nên người dân Phúc Hậu thờ ở đình. Ông còn có công âm phù giúp vua Lê Thái Tổ bình định giặc Minh, được vua phong sắc là Hiểu ứng đại vương. Hàng năm những ngày kỷ niệm sinh, hóa, khánh hạ, dân làng tổ chức tế, lễ tưởng nhớ ghi công người anh hùng của quê hương, đất nước. Đình Phúc Hậu được xây dựng từ khá sớm. Căn cứ vào thần tích năm Hồng Đức, sắc phong thế kỷ XVII (Dương Đức, Chính Hòa), tượng phỗng thế kỷ XVIII, đặc biệt có 2 tấm xà có trang trí nghệ thuật thế kỷ XVII. Đình được xây dựng ít nhất từ thế kỷ XVII, lúc đó đình có quy mô kiến trúc đồ sộ, nguy nga sầm uất. Năm 1972, bom B52 giặc Mỹ đã hủy diệt đại đình, hiện còn phần kiến trúc hậu cung và cổng tam quan, lâu các của kiến trúc thời Nguyễn. Đầu những năm 2000, nhân dân khôi phục lại ngôi đình trên nền xưa cũ với kiến trúc 3 gian 2 chái, 4 mái đao cong, các bộ vì được làm cầu kỳ. Nổi bật hơn trong không gian thiêng của ngôi đình là cổng nghi môn. Nghi môn làm ngang trước đại đình có tâm cổng giữa hơi lánh với đường hoàng đạo chính giữa đình. Dạng cổng đình Phúc Hậu là tam quan lâu các ngũ môn có tầng thượng lâu. Ngũ môn làm đồ sộ to đẹp, có dấu ấn của nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn. Gạch xây tam quan chủ yếu là gạch Bát Tràng các cửa giữa và 2 bên cuốn vòm gô tích, chân tầng to khỏe, vững chãi, 2 bên xây cầu thang dẫn lên tầng thượng lâu. Trên thượng lâu là 1 kiến trúc nhà 2 lần tường chồng diêm 8 mái, cuốn đao cong 4 góc. Chắn xung quanh là tường hoa lan can, có xây mái lát gạch phẳng che trên 2 lối cầu thang lên. Bốn góc thượng lâu. Trụ biểu đắp mũ vuông, mặt các ô có đắp vôi mật ghép gốm thành các họa tiết đặc tả tứ linh. Thượng lâu làm ở giữa tầng trên, mái lợp ngói ống, 2 lần tường, bên ngoài đỡ trụ đao 4 góc, tường trong trổ cửa cả 4 phía đỡ phần mái diêm bên trên. Mặt tường bên ngoài tam quan có 2 ô 2 bên hình chữ nhật ghép gốm hình độc long dỡn thủy vờn mây, quy đội chầu vào giữa. Hai bên lâu các có 2 cửa cũng lợp ngói ống chồng diêm có đao cong các góc nhưng thấp hơn tầng thượng và cửa nhỏ hơn cửa giữa. Chỗ mái 2 cổng liền với thượng lâu có 1 đoạn tường giáp hẹp, bên ngoài mở hai bên có trụ biểu, tiếp đến là tường chắn xây cao, trụ biểu này làm cao bằng mặt tầng thượng có các mặt ô đắp vôi ghép gốm hệ tứ linh. Ở mép 2 cổng bên chạy về trong sân đình có 1 đoạn tường thấp, đầu tường cũng bổ thành trụ biểu nhưng thấp và làm giản đơn. Đầu ngoài tường chắn ngang có mỗi bên 1 cửa nữa tạo thành hệ thống ngũ môn (5 cửa) của tam quan.
Đình Phúc Hậu còn lưu giữ được khối lượng khá lớn các di vật đồ thờ có giá trị cuốn thần tích và 19 đạo sắc phong có niên đại từ thời Lê, Tây Sơn đến thời Nguyễn là một tập hợp sử liệu phong phú. Các sắc phong khá sớm như Dương Đức, Chính Hòa, đặc biệt là có sắc thời Quang Trung và Cảnh Thịnh. Các triều đại đều phong thần cho Lý Tam Lang với nhiều mỹ tự đẹp. Bên cạnh đó còn có bộ long ngai bài vị, kiệu bát cống, giá văn, hương án, gươm thờ, hoành phi, câu đối... có niên đại từ thế kỷ XVII - XVIII. Đặc biệt đôi phỗng chầu bằng gỗ, sơn son, thếp vàng miêu tả kỹ với dáng vẻ vui cười hóm hỉnh có niên đại của thế kỷ XVII - XVIII. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) vùng Đông Ngàn nói chung bị địch o ép lập tề mạnh. Phúc Hậu và xã Dục Tú lập tề “vỏ”, giả danh che mắt địch, cán bộ của ta thường xuyên qua lại hoạt động giữ cơ sở, gây dựng phong trào. Ngay trong hậu cung ngôi đình có 1 căn hầm bí mật, nhiều cán bộ chủ chốt xã Dục Tú lúc đó và của huyện Từ Sơn đã ẩn náu ở đây. Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đình và sân đình trở thành trung tâm tổ chức sinh hoạt, hội họp, mít tinh, động viên tinh thần quân dân đánh Mỹ.



