Đình Phụng Công, thôn Hòa Bình, xã Thường Tín, thành phố hà Nội
Giới thiệu
Di tích đình Phụng Công được xây dựng khá lâu đời, nhưng trải qua quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, đến nay di tích không còn giữ được những tư liệu nói về năm khởi dựng của ngôi đình. Để xác định niên đại tương đối cho di tích chúng tôi có thể dựa vào căn cứ sau: Căn cứ vào lời kể của các cụ cao niên trong làng cùng hiện vật còn lưu giữ như bát hương gốm Thổ Hà nghệ thuật thế kỷ XVIII, thì đình Phụng Công được ra đời từ thời Lê.
Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử chính quyền và nhân dân nơi đây đã nhiều lần trùng tu, sửa chữa vào những năm sau:
- Lần thứ nhất: Năm Kỷ Ty 1925 sửa phương đình, hậu cung - Lần thứ hai: Năm 1997
- Lần thứ ba: Năm 2007
- Lần thứ năm: Năm 2012 tả hữu mạc, sân.
Năm ở cửa ngõ phía Nam của thủ đô, Thường Tín là huyện có truyền thống lịch sử, văn hóa đặc sắc, vốn được mệnh danh là đất "danh hương" huyện anh hùng. Trong các cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam, vùng đất này có nhiều dấu ấn lịch sử.
Nơi đây có nhiều di chỉ khảo cổ học như đồ đá mới, thời kỳ văn hóa Đông Sơn và có nhiều địa danh được sử sách ghi lại như Chương Dương Độ, trận chiến Hà Hồi đánh thắng giặc Mãn Thanh... và còn là huyện có vùng đất khoa bảng nổi tiếng với danh sách được ghi tên những người đỗ Tiến sĩ qua các triều đại như Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, các bậc chí sĩ trong phong trào yêu nước như Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến... là những nhân vật kiệt xuất nhất của lịch sử nhân loại là Danh nhân văn hóa Thế giới.
Ngoài ra còn có hệ thống các di tích cổ như chùa Đậu, chùa Mui, đền thờ Nguyễn Trãi... Về văn hóa phi vật thể huyện còn lưu giữ nhiều tục ngữ, dân ca địa phương, các sinh hoạt lễ hội với các trò chơi dân gian... Người Thường Tín cần cù, sáng tạo, tài hoa trong lao động sản xuất nơi vốn được coi là một trong những "cái nôi làng nghề" lâu đời của nước ta. Vì vậy xã Hòa Bình là một trong những số đó.
Hòa Bình là miền đất thuộc vùng châu thổ sông Hồng, được hình thành cách đây hàng nghìn năm do phù sa của sông Hồng, sông Nhuệ và sông Tô Lịch bồi đắp. Nhân dân nơi đây có truyền thống đoàn kết một lòng, cần cù sáng tạo trong lao động, có tinh thần bất khuất, dũng cảm trong chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê hương.
Trải qua nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, song các làng xã Hòa Bình ngày nay chưa bao giờ bị tách rời, luôn là một khối thống nhất. Mỗi bờ lúa, lũy tre của quê hương đều thấm đẫm mồ hôi, xương máu của bao thế hệ nhân dân xã Hòa Bình góp công xây đắp lên. Thế kỷ XV, những cư dân đầu tiên đã bỏ biết bao mồ hôi công sức để cải tạo ruộng đồng, mở mang bờ bãi. Xưa kia Hòa Bình là vùng đất hoang hóa sình lầy và một số gò cao. Các cánh đồng Dộc Sâu Trong và Dộc Sâu ngoài, Đường Hương, Trũng Chùa, Đồng Cổ... đều ngập nước. Rải rác các gò cao là Sơn Nam và gò Đường Nam, với rất nhiều cánh đồng manh mún, nhỏ lẻ. Từ thế hệ này đến thế hệ khác nhân dân nơi đây đã chung sức, chung lòng cải tạo vùng đất thành cánh đồng mầu mỡ, trồng cây lúa nước, tiếp nối truyền thống của nền văn minh sông Hồng.
Bên cạnh nông nghiệp, nghề thủ công được xuất hiện ở xã Hòa Bình từ thế kỷ XV - XVI. Những sản phẩm như đồ gỗ ở Quần Hiền, Phụng Công còn nghề làm lược sừng ở làng Thụy Ứng...
Trải qua quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, nhân dân Hòa Bình vẫn lưu giữ được di sản văn hóa với hệ thống đình, đền, chùa, nhà thờ tổ đặc sắc... thì đình Phụng Công còn hiện hữu trong những số di tích đó.
Qua khảo sát thực địa tại di tích và lời kể của các cụ cao niên trong làng cùng hiện vật còn lưu giữ tại di tích như hoành phi, câu đối thì đình Phụng Công là nơi phụng thờ Đức Linh Lang đại vương thời Lý.
Một hôm vua Lý Thái Tông ra ngự ở phường Hà Khấu gặp một người con gái phong tư yếu điệu, mắt phượng long lanh, mặt ngọc, má phấn, môi son, sắc đẹp chim sa cá lặn. Hỏi ra mới biết nàng tên là Hạo, tuổi xuân mười tám, cha mất sớm, hai anh em đang ở với người dì phường Thị Trại (Thủ Lệ ngày nay).
Vua đem lòng yêu mến, liền đem về cung phong làm đệ cửu cung phi. Một hôm bà cung phi ra Hồ Tây giặt lụa và tắm rửa, bỗng thấy một con giao long tiến đến, quần chặt lấy bà, phun rớt rãi đây người và toả hương thơm nức. Sau đó bà mang thai, trước khi sinh, mơ thấy có một bậc trượng phu đầu đội mũ rồng, mình mặc áo bào, đai ngọc đi đến trước mặt thưa rằng:
- Thân là con trai Long vương, tên là Hoàng Lang, được lệnh đầu thai làm con vua, xin cung phi nhận lấy.
Nói xong biến mất. Trời đất bỗng nhiên chuyển động, ánh chớp rực sáng, hương thơm ngào ngạt. Cung phi chuyển dạ, sinh được con trai, trên lưng có một vệt vấy rồng và có 28 nốt ruồi như 28 vì tinh tú, ở bụng có ngôi sao Bắc Đẩu, mắt phượng, mày hùm, cổ rồng, hàm én, diện mạo kỳ khôi, rõ ra là một bậc quý nhân. Sinh được 7 ngày, vua theo mộng triệu đặt tên là Hoàng Lang, tên chữ là Hoàng Chân, sau phong là Linh Lang.
Tương truyền, hoàng tử Hoàng Chân hay ăn, mau lớn, chưa đầy tuổi nghe tin có giặc Trinh Vĩnh ở phía Nam bèn vươn vai lớn bống, thành một tráng sĩ, cưỡi voi ra trận, chỉ trong chớp mắt đánh tan quân giặc. Đến khi quân xâm lược nhà Tống kéo sang xâm lược nước ta, bị Lý Thường Kiệt chặn lại ở phòng tuyến sông Cầu. Theo kế hoạch của Lý Thường Kiệt, hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiến hạm đổ bộ quân sang bờ Bắc, tiến công vào trận tuyến của quân Tống ở quãng sông Kháo Túc (sông Cầu gần núi Nham Biền).
Hai hoàng tử thúc quân đánh mạnh nhăm thu hút lực lượng của chúng, tạo điều kiện cho Lý Thường Kiệt bất ngờ vượt sông đánh úp vào doanh trại quân giặc.
Quân Tổng không kịp trở tay, đại bại. Quân ta thắng lớn. Trong trận chiến đấu quan trọng ấy hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn đều hy sinh anh dũng.
Truyện kể rằng: Hình hài, xương thịt hoàng tử Hoằng Chân đã ngã xuống, nhưng linh hồn chưa thoát, bảo với Ba quân rằng: Hãy đưa ta về hòn đá thiêng nơi xưa mà trời đã định. Nhà vua nghe tin liền cho rước Hoằng Chân về chỗ hòn đá, nơi trước kia bà cung phi tắm giặt gặp gỡ giao long ven Tây Hồ mà lập đền thờ. Nơi ấy, nay là Thủ Lệ, thuộc Thủ đô Hà Nội. Nhiều nơi khác cũng lập bài vị, thờ Linh Lang đại vương.
Làng Hoà Bình thờ Linh Lang đại vương ở đình, tôn vinh làm thành hoàng làng, vị vua tinh thần của làng, người có khả năng bảo trợ đời sống tinh thần cho nhân dân. Từ ấy đến nay, trong đình khói hương không bao giờ tắt, dân Hoà Bình làm ăn thịnh vượng, không ngừng phát triển. Các triều đại phong kiến nhà Lê, nhà Nguyễn đều có phong sắc cho thần.



