Đình Phương Hạnh
Giới thiệu
Đình Làng Phương
Hạnh trong những năm đầu của thế kỷ 19 thực dân Pháp đô hộ nước ta, chúng đập
phá ngôi đình bất nhân dân thôn đem lấp sông để chúng hành quan di chuyển sang
định khu đồn bốt lúc đó chúng xây nhà thờ đưa đạo thiên chúa vào bốt cời nhằm
đội lốt tôn giáo để che đạy âm mưu xâm lược đen tối của chúng. Đất nước ta trải
qua bao thăng trầm biến cố, trải qua bao cuộc chiến tranh do đế quốc xâm lăng.
Thời nhà nước Văn Lang thì quân Thục xâm lăng, sau này là các đế quốc sừng sỏ
như Thực dân Pháp, Đế quốc Mỹ. Dưới dự lãng đạo của các triều đại Vua hùng cho
tới khi có Đảng, Bác Hồ lãng đạo các cuộc kháng chiến đầy oanh liệt, đất nước
giành thắng lợi đưa nước ta trở về độc lập thống nhất nước nhà. Nhân dân phục
hồi các di tích đến năm 1999 đình Tiến Tiên được Sở Văn hoá Hà Tây nay là Hà
Nội quyết định công nhận Di tích lịch sử văn hoá tại Quyết định số 1210/QĐ-UBND
ngày 09/11/1999.
Đình làng Phương
Hạnh thờ Thành hoàng (Tản Viên Sơn). Cụ thể là: Vua Hùng đời thứ 18 nay dân
làng gọi là Thánh Đức thượng đẳng “ Thánh Tản Viên Sơn”. Tích kể rằng Vua Hùng
đem quân đánh giặc giữ gìn bờ cõi nước Văn Lang, sau khi thắng trận trở về. Vua
cho quân binh nghỉ chân trên khu vực ven Sông Bùi ngày nay. Vua thấy nơi đây có
vị trí chiến lược an toàn và kỳ vĩ, phía Tây Nam là dãy Núi Thoong bao bọc.
Phía Đông bắc có con Sông Bùi uốn mình chảy qua, đây là khu đất đắc địa, Địa
linh nhân kiệt. Nhân dân trong làng thấy tướng sỹ ba quân của nhà Vua nghỉ chân
khi thắng trận trở về. Bằng tấm lòng của minh nhân dân đem lễ vật lợn, gà, trâu
bò tiến lễ. nhưng Vua chỉ nhận lương thảo để sinh hoạt còn lễ vật bằng trâu bò
lợn gà nhà Vua không nhận và không cho giết thịt. Vua ban cho nhân dân 08 đạo
sắc phong, nhằm dăn dạy nhân dân cần sống đoàn kết. nêu cao tinh thần đấu tranh
bảo vệ dân tộc, đồng thời tập trung lao động sản xuất nâng cao đời sống ấm no
hạnh phúc trong nhân dân. Thấm nhuần lời căn dạy đó nhân dân trong hai thôn đó
là thôn Tiến Tiên và thôn Phương Hạnh đã lập Đình thờ phụng người. Nhân dân 2
thôn thường xuyên trao đổi kinh nghiệm làm ăn, đoàn kết anh cả và em, nhường
nhau chia cơm xẻ áo có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia xẻ, cùng nhau phấn đấu
xây dựng quê hương đất nước và bảo vệ tổ quốc Việt Nam ngày nay vẹn toàn. Sau
nau này nhân dân thường khêm nhường gọi nhau bằng từ “ Anh cả - Em bé” hễ khi
tổ chức lễ tiệc, hay liên hoan, mở hội…



