Đình Quần Hiền, thôn Hòa Bình, xã Thường Tín
Giới thiệu
Theo lời kể lại của các cụ già trong thôn và nhân dân địa phương thì đình Quần Hiền được xây dựng từ lâu đời, ở vị trí thuận tiện giao thông hiện nay. Đình Quần Hiền nằm trên một thế đất đẹp, ở phía đông của làng đình trông về hướng Bắc, ngay trước cửa đình là dòng sông Tô Lịch. Người xưa chọn địa thế nhất cận thị, nhị cận giang để đầu tư xây dựng cho công trình đình Quần Hiền được xây dựng theo kiểu chữ công, bao gồm tòa đại bái, phần tiền tế và hậu cung. Đại bái đình Quần Hiền dài 13 mét, rộng 8 mét, được chia làm ba gian, gian giữa, gian bên kiến trúc tòa, đại bái kết cấu theo hình thức bốn hàng chân cột gỗ với kiểu vì nóc chồng rường. Trong đại bái có bốn bức cuốn lớn, bức cuốn bên tả điêu khắc tích ngư long hí thủy trọng tâm, bức cốt là một con rồng lớn, miệng đang phun nước dưới đó. Tòa đại bái trang trí điêu khắc và bài trí công trình lộng lẫy. Đó là hệ thống hoành phi, câu đối còn nguyên vẹn chính điện gian giữa là bức cửa võng điêu khắc dứt công phu đặc biệt là bát tiên quá hải, sơn son thếp vàng tám vị tiên đi thuyền rồng cưỡi cá mỗi nhân vật mỗi động tác, tay cầm đàn nhị như đang ca hát bức chạm này mang yếu tố dân gian đậm nét…
Thần tích được lưu trữ tại đình Quần Hiền chép lại rằng: “Tháng 10 mùa đông, niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 17 năm Kỷ Hợi. Ở Quỳ Châu và các tri châu rối ren, lộn xộn. Nhà Minh cho Lý Bân, Phương Chính cùng nhiều tướng lĩnh dẫn 10 vạn binh, đánh Bình Định vương ở Mang Thôi, sau đó Bình Định vương thua trận, lúc đầu Bình Định vương khởi binh ở căn cứ Lam Sơn. Người Minh không ngừng cho tìm kiếm lùng sục, kiểm tra ráo riết. Với thế quân hao tổn và còn yếu, chưa thể chống cự lại địch, Bình Định vương bèn mưu tính cùng các chư tướng để phụ giúp và nói rằng: “Ai có thể đem thân ra thay ta, để giặc Minh bắt được, khiến cho ta đi ẩn lấp, giấu tông tích mà cho quân nghỉ, để thu thập quân sĩ nhằm mưu đồ cử binh lần sau”. Lê Lai xin tự đem thân nhận lấy việc ấy, Vương lạy khấn trời và nói rằng: "Lê Lai đem thân thay chúa, nếu ngày sau không nhớ đến công, nguyện cung điện hóa thành rừng núi, bảo ấn hóa thành sắt đồng, thần kiếm hóa thành dao cùn". Sau đó Lê Lai liền dẫn binh đến thành Tây Đô để khiêu chiến, tự xưng mình là Bình Định Vương, tất cả giặc Minh thấy vậy đều bao vây, chặn tất cả các lối không thể quay đầu, Lê Lai xông thẳng vào đánh và bị giặc Minh bắt đem hành hình. Ở thành Đông Quan và các xứ đều truyền đi là Bình Định Vương đã chết. Vương được nghỉ ngơi vài năm, người Minh cũng không lưu ý đề phòng. Cho đến lúc Vương dời đồn Mang Thôi, Lý Bân và Phương Chính tiến thẳng gần sát để bao vây, Vương giấu binh một chỗ để rình giặc đến Thi Lang rồi công kích và đánh, hai người Lý Bân và Phương Chính gần như chỉ còn nước thoát thân mình. Vương tiến quân đến sách Ba Lẫm thuộc Lỗi Giang, tướng Minh là Tạ Phượng, Hoành Thành phải bỏ đồn Nga Lạc, quay về giữ trại Quan Du, để phòng bị cho thành Tây Đô, cố giữ mà không ra đánh. Vương lại sai Lê Sát, Lê Hào chia nhau tiến đánh đại phá bọn giặc, ở các huyện bên cạnh đều sôi nổi hưởng ứng, thế quân đại chấn phấn khởi.
Lê Thái Tổ ngự tứ ban cho đôi câu đối như sau:
“Sinh vi tướng tử vi thần, song thủ đề, ức tải dao đồ hoàn đế trụ.
Công tại triều danh tại sử, nhất thân thục, vạn niên trâm hốt phó nhi lang”.
Tạm dịch: “Sinh là tướng - tử là thần, hai tay nắm giữ, thuần khiết nghìn năm hoàng tộc lưu mũ giáp.
Công lao ở triều đình - tên tuổi ở sử sách, một thân thay thế, trâm hốt vạn năm trao đấng nam nhi”.
Hoành biển: “Miếu đường vĩ khí”.
Lê Thánh Tông ngự tứ ban cho đôi câu đối như sau:
“Đại truyền chung đỉnh nguy nhân vọng.
Thế thủ trung trinh dữ quốc đồng”.
Tạm dịch:
“Lưu truyền trên chuông đỉnh, công lao to lớn người người kính ngưỡng,
Đời giữ tiết tháo tinh trung khảng khái, phù trì giúp đỡ cùng đất nước”
Tiết Đoan Dương năm Quý Mùi, Hoàng triều niên hiệu Tự Đức thứ 36 (1884).
Đình Quần Hiền thờ ngài Lê Lai sắc phong mỹ tự các đời
Vạn Đức Thánh Hoàng Trung Túc Đại vương. Khâm phụng!
Triều Lê lần lượt ban tặng gia phong: Hướng nghĩa Kiệt trung, Chiêu tiết Hạo linh, Dực bảo Trung hưng, Trác vĩ Quang ý, Thượng đẳng thần. Kinh hữu lịch triều sắc phong Hộ quốc Hựu dân, Hiển ứng Chiêu cảm, Phu huệ Hồng ân, Phổ trạch Tá trị, Phù vận Khuông quốc, Tế thế Phu hưu, Khang hựu Đốc bật, Huy quang Cương chính, Phù tộ Diễn khánh, An dân Trấn quốc, Anh linh Tán bính, Phù cương Dương vũ, Hùng tài Vĩ lược, Tá tích Tán trị, Phu dũng Trợ thắng, Phổ thông Tích phúc, Chí nhân Hậu đức, Phong công Hoành mô, Viễn lược Quảng nghiệp, Tổng lộc Thuần hi, Phương dự Mậu công, Thịnh đức Hậu trạch, Tác tắc Hồng huân, Bảo nghiệp Trang tĩnh, Dụ phúc Diệu vũ, Khai sáng Thủ thành, Phi hiến An biên, Uy linh Tá thánh, Diệu uy Tán Mưu, Triệu tích Cương minh, Nhân trí Hùng lược, Tuy khánh Liễm phúc, Tế trị Anh nghị, Thần đoán Khang quốc, Long nghiệp Sùng cơ, Hiển khánh Ôn văn, Hoàn vũ Thâm nhân, Hiển đạt Chiêu hựu, Diệu ứng Quang tế, Bác thi Phổ nhuận, Phái ân Anh du, Mậu đức Minh mẫn, Thần vũ Nghiêm uy, Thiện tín Mỹ đại, Thánh thần Anh minh, Quả đoán Hùng nghị, Tối linh Đại vương và Vua bà Trai trang Tĩnh nhất, Ý đức Nhân hậu, Thuần hòa Đôn mỹ, Nhu huệ Trinh nghi, Lệnh đức Gia hạnh, Chương thuận Ôn từ, Uyển mị Phong diễm, Nhàn nhã Thừa thiên, Phái trạch Phu hựu, Hồng từ Phổ nhuận, Long hưu Nghiêm cẩn, Thuần ý Lệnh nghi, Khoan hòa Từ ý, Ôn nhu Thuần tĩnh, Đoan cung Diễm lệ, Tối linh Công chúa.
Sự tích về Vạn Đức Thánh hoàng Tối linh đại vương, vốn được ban quốc tính họ Lê, tên Lai. Vào thời An Nam thuộc bọn đạo tặc nhà Minh, nhân dân khởi nghĩa tòng quân theo Lê Thái Tổ, khởi thân thân chúa giữ tinh trung, sau này Thái Tổ bình định được giặc Minh lấy được thiên hạ, sách vở ghi chép lại tiết tháo lẫm liệt, gia phong là công thần, truy phong là Phúc thần Linh phu Hiển ứng. Dân thôn hương hỏa phụng sự đền miếu thờ Lê Lai.
Đình Quần Hiền là một di tích lịch sử, nơi đây thờ thành hoàng làng là anh hùng dân tộc Lê Lai. Nơi đây cũng còn lưu giữ truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn trong giai đoạn bao vây thành Đông Đô (Hà Nội). Đình là một công trình kiến trúc điêu khắc thời Nguyễn, khá điển hình về nghệ thuật, kiến trúc và điêu khắc với đầy đủ các yếu tố truyền thống và dân gian.



