Đình Quang Hiền, thôn Hiền Giang, xã Thường Tín, thành phố Hà Nội
Giới thiệu
Đình Quang Hiền là một công trình kiến trúc tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng. Căn cứ các kết quả khảo sát, nghiên cứu về di tích, phân loại di tích theo các tiêu chí xếp loại di tích tại điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, xét theo giá trị nổi bật, đình Quang Hiền xếp vào loại: Di tích lịch sử văn hóa.
Niên đại khởi dựng: Theo lời kế của các cụ cao niên, ngôi đình được khởi dựng từ thời Lê. Song, hiện không có tư liệu đích xác về thời điểm ban đầu khi ngôi đình xuất hiện. Tuy nhiên, căn cứ vào một số hiện vật có niên đại thời Lê trung hưng như sắc phong, bản sớm nhất còn lại tại đền hiện nay có niên đại Cảnh Hưng 44, tức năm 1783, cuối thế kỷ 18. Như vậy, ít nhất có thể khẳng định chắc chắn ngôi đình này đã có mặt tại đây vào thế kỷ 18. Niên đại kiến trúc hiện tồn: Di tích hiện nay là sản phẩm của lần trùng tu phục dựng cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XIX.
Như đã nói ở trên, ngôi đình Quang Hiền có thể có thời gian khởi dựng từ rất lâu và trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Qua khảo sát các tư liệu Hán văn và trên kiến trúc, có thể thấy đình Quang Hiền đã trải qua một số lần trùng tu, sửa chữa lớn vào thời Nguyễn.
Vào những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, do ngôi đình xuống cấp quá nặng, chính quyền và nhân dân địa phương đã phục dựng lại các hạng mục chính của đình: Năm 1985 phục dựng Hậu cung; năm 2000 phục dựng đại bái.
Đình Quang Hiền tọa lạc ở cuối làng, nhìn theo hướng Đông ghé Nam. Toàn bộ khuôn viên ngôi đình đã được xây tường bao quanh. Theo lời kể của các cụ cao niên và nhân dân địa phương, trước đây di tích có đầy đủ các hạng mục của một ngôi đình cổ như: Nghi môn, Đại bái, Phương đình, Hậu cung, giếng, ao, sân vườn, toàn bộ nhìn theo hướng bắc ghé đông (nhìn về thôn Hưng Hiền). Song, trải qua thời gian, toàn bộ các hạng mục công trình đình cũ đã xuống cấp nặng, đến năm 1985, do di tích xuống cấp quá nặng, nhân dân địa phương đã phải tháo dỡ toàn bộ các hạng mục và phục dựng lại phần Hậu cung theo hướng đông nam (khác hướng cũ của đình). Toàn bộ phần nền móng cũ của ngôi đình cũ hiện vẫn còn dưới lòng đất. Đình cũ vốn nhìn ra một gò đất cao phía trước, phía sông Tô Lịch, xung quanh là cánh đồng lúa mênh mang.
Nghi môn đình Quang Hiền hiện nay gồm hai trụ biểu lớn và hai trụ biếu nhỏ. Hai trụ lớn tạo thành một lối đi lớn chính giữa. Từ trụ lớn sang các trụ nhỏ là tường lửng. Trụ biểu lớn được tạo tác khá công phu với đỉnh trụ là túc phượng chầu. Đây là biểu tượng thường thấy tại nghi môn các ngôi đình thờ thành hoàng. Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen.
Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp. Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Dưới đỉnh trụ là ô lồng đèn, để trống không trang trí.
Đại bái đây là công trình mới được chính quyền và nhân dân địa phương phục dựng năm 2000, mô phỏng một phần tòa Đại bái của đình cũ với 5 gian. Nhìn bên ngoài, đại bái đình Quang Hiền có dạng một tầng hai mái chảy lợp ngói ri. Chính giữa bờ nóc đắp nổi hình tượng lưỡng long chầu nguyệt. Đây là hình tượng thường thấy trong nhiều di tích đình làng Bắc bộ. Hai đầu bờ nóc đắp hai đấu đinh, cuối bờ dải xây giật nhị cấp. Từ hai đầu tường hồi nối về phía trước là hai trụ biểu, tạo cho kết cấu bên ngoài tòa Đại bái có dạng tay ngai trụ biểu. Các trụ biểu này có kết cấu đơn giản, mô phỏng kiểu thức trụ biểu cũ, song không có chi tiết trang trí cầu kỳ.
Vào bên trong, tương ứng với 5 gian là 6 bộ vì trên 2 hàng chân cột, nền lát gạch bát, cao hơn mặt sân khoảng 50cm. Các bộ vì ở đây có kết cấu khác nhau.
Bộ vì gian chính giữa kết cấu theo kiểu "thượng giá chiêng, chồng rường, hạ ván mê". Câu đầu ăn mộng vào thân cột cái, trên lưng câu đầu là hai trụ trốn được kê đấu vuông thót đáy. Từ thân hai trụ trốn là các con rường ăn mộng và chồng lên nhau qua các đấu kê. Hai đầu trên của trụ trốn là một con rường lớn tạo cho bộ vì có dạng giá chiêng chồng rường, con rường này áp xả, đội thượng lương qua đấu kê hình thuyền. Riêng con rường áp câu đầu cắt ửng tạo sự thông thoáng cho vì thượng. Các cấu kiện gỗ ở dây đều được vẽ trang trí hình cánh sen ở các đấu kê và một số hoa văn mây lá tại thân các con rường. Dưới câu dầu là hai dầu dư chạm rồng khá tính xảo. Đây chính là chỗ thể hiện bàn tay khéo léo của người thợ mộc Quang Hiền, nơi có nghề mộc chạm khắc từ bao đời nay. Đó cũng là sự tri ân với vị tổ nghề Lõ Ban được thờ cúng tại chính di tích. Vì hạ được tạo bởi ván mê với các mảng chạm khắc tứ quý tinh tế. Bộ vì hai gian bên được làm theo kiểu "thượng ván mê, hạ kẻ ngồi". Điều đáng chú ý ở đây là ván mê ở vì thượng của bộ vì này được thiết kế khá đặc biệt với hình tượng lưỡng long đội hồ phù ngậm chữ thọ. Nửa dưới ván mê được chạm nổi một đôi rồng trong tư thế chầu vào nhau, cùng đỡ nửa trên chạm mặt hổ ngậm chữ Thọ, khoảng giữa hai đầu rồng được trổ thủng tạo sự thông thoáng cho bộ vì. Dưới vì thượng là câu đầu có mõm nghé. Xà hạ ăn mộng vào thân cột quân, cùng với kẻ tạo cho toàn bộ bộ vì có kết cấu "ván mê, kẻ ngồi". Thực chất, bộ vì này mô phỏng nguyên kiểu thức bộ vì Đại bái của ngôi đình cũ đã hỏng nát, hiện chỉ còn giữ được một vài bộ vì chuyển vào khung Hậu cung.
Công trình Hậu cung đình Quang Hiền được phục dựng năm 1985 sau khi đình cũ xuống cấp phải tháo dỡ. Hạng mục này được phục dựng với 3 gian nhà ngang, về sau được nối liền với Đại bái 5 gian phục dựng năm 2000 tạo cho toàn bộ ngôi đình có kết cấu dạng chữ Đinh.
Hệ mái ngoài của Hậu cung được lợp bằng ngói ri, hai đầu bờ nóc đắp hai đấu đinh.
Vào bên trong, tương ứng với 3 gian là 4 bộ vi trên 2 hàng chân cột. Toàn bộ cột và khung vì ở đây được tận dụng từ khung đình cũ. Bộ vì gian giữa được làm theo 2 kiểu thức: một bên là "thượng ván mê, hạ kẻ ngồi" (tương ứng với bộ vì gian bên tại Đại bái); một bên là "thượng chồng rường giá chiêng, hạ kẻ ngồi" (gần giống với bộ vì gian giữa Đại bái). Phần vì thượng ở vì "thượng ván mê, hạ kẻ ngồi" chỉ có một mặt được chạm khắc, mặt kia để phẳng. Thực chất đây là bộ vì áp hồi của đình cũ, song do được làm bằng gỗ tử thiết, chất gỗ còn tốt nên được tận dụng vào bộ khung gian giữa hậu cung. Các chi tiết chạm khắc tại bộ khung vì ở đây có nhiều nét tinh tế. Bộ vì hai gian hồi được làm đơn giản kiểu vì kèo.
Nhìn chung, kết cấu kiến trúc đình Quang Hiền đã vừa đảm bảo được độ vững chắc cho công trình, vừa phô diễn được một phần bàn tay khéo léo của người thợ mộc địa phương.
Hậu cung là nơi thâm nghiêm, tập trung nhiều đồ thờ tự nhất. Gian chính giữa Hậu cung là ban thờ Thành hoàng làng TS. Đỗ Nhuận với long ngai, bài vị, mũ, hia thánh, hạc thờ, quán tẩy, cây trầm hương, bộ lục sự, hoành phi, câu đối... Tất cả đều được bài trí trang nghiêm.
Gian bên hữu là ban thờ đức Lỗ Ban với tượng, ngai thờ, bài vị, bát hương thổ hà, hoành phi, đài nước...Về số lượng, chủng loại: Di vật đình Quang Hiền phong phú, đa dạng về chủng loại, chất liệu, có đồ gỗ, đồ đồng, đồ gốm sứ, đồ giấy... Trong số các di vật tại đây có cây hương đá, sắc phong, quán tấy, hạc gỗ có niên đại cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, còn lại đa số có niên đại Nguyễn cho đến gần đây.



