Đình Sở Thượng
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Căn cứ vào cuốn Ngọc phả cổ lục do Quản giám Bách Thần Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu 3 (1737) và bản sắc phong niên hiệu Chính Hòa 5 (1684) hiện lưu tại di tích thì đình Sở Thượng và miếu Cốc thờ đức Linh Lang Đại Vương. Cuốn ngọc phả có ghi “… Vào thời vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072), tại giáp Đông Đoàn, xã Bồng Lai, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây, có người họ Nguyễn, huý là Thực, vợ người bản ấp họ Lê, huý là Năng. Vợ chồng vốn giàu có, tâm tính hiền từ nhưng hiếm nỗi chưa có con. Một hôm, bà vợ nằm ở chính tẩm, mộng thấy mây xà âm tinh rơi xuống miệng thì đột nhiên tỉnh giấc, đem chuyện mộng báo với Nguyễn Công. Nguyễn Công nói: Đó là mộng lành, ắt sinh quý nữ. Sau 100 ngày, bà Năng bỗng mang thai, đầy tháng sinh được một cô con gái. Đứa trẻ lớn lên dáng vẻ yểu điệu, mắt phượng, mày ngài, vẻ mặt sáng tươi, thân thể ngào ngạt hương thơm. Cha mẹ rất đỗi yêu quý, đặt tên con là Hạo Nương. Hạo Nương lên 3 tuổi thì cha bệnh mất, bà Năng đưa con gái đến ở với em dì ở phường Thị Tắc, thành Thăng Long, buôn bán tơ tằm kiếm sống. 17 tuổi, Hạo Nương đã là một cô gái xinh đẹp tuyệt trần khiến chim sa cá lặn, hoa thẹn, trăng nhường, đầy đủ tứ đức lại toàn tài. Một hôm, vua Lý Thánh Tông ngự du thiên hạ, thấy Hạo Nương bên đường đã cảm thấy đây là một cô gái tốt, bèn ban thưởng cho Thái bà 100 dật bạc, nghênh đón Hạo Nương về phủ, lập làm cung phi thứ 9, dựng cung tại phường Thị Tắc. Một ngày, Cung phi ra bến Tây Hồ, bỗng gặp con Giao Long lao tới cuốn quanh mình ba vòng, toả mùi thơm ngào ngạt, rồi trở ra hồ phun đám mây ngũ sắc. Từ đó, bà bỗng mang thai, được 14 tháng, Cung phi đang ngồi bên vườn thượng uyển thì thiếp đi, bỗng thấy một vị đại trượng phu, thân dài 9 thước, đầu đội mũ rồng sáng lạn, thân đeo cẩm bảo diệp ngọc. Trượng phu đến trước Cung phi nói rằng: thần vốn là con của Long Quân, tên là Hoàng Lang. Nay, xuất thế, nhập vào hoàng gia, thác sinh làm con của Hoàng đế. Nói rồi, Cung phi bỗng tỉnh giấc. Đến tháng 12, bỗng một trận giông bão nổi lên, trời đất u ám, hương thơm ngào ngạt, mưa gió ầm ầm, sấm chớp dữ dội suốt 10 ngày, Cung phi sinh hạ một con trai, mắt phượng, cổ rồng, vai hổ, thân hình cao lớn, sau lưng có 28 nốt tựa vảy lân, bụng bắc đẩu sáng tựa ngọc. Sinh được 7 ngày, vua thấy như mộng báo nên đặt tên là Hoàng Lang.”
Một thời gian sau, bỗng có giặc Vĩnh Trinh với nghìn vạn quân kéo đến. Một ngày, biên thư báo gấp đến, Vua bèn cho lập đàn tế, truyền trăm cung cầu đảo bách thần, âm phù hộ quốc. Khi ấy, trời đất tối đen, Vua ngự tại cung Thái Hoà, khi thiếp ngủ thì bỗng nghe có tụng “quốc thế nghiêng ngả, đã có thánh tài, trời đã định không phải ưu phiền, cầu được người tài, giặc Vĩnh Trinh chắc phải tẩu tán”. Nghe tụng, Vua bỗng tỉnh giấc, cho là mộng lành, ắt có bách thần báo giúp. Sau đó, nhà vua truyền xá nhân, cầu trong thiên hạ thần dân, anh hùng hào kiệt tứ phương đem tài trí dẹp giặc, ắt sẽ được ban trọng thưởng. Hoàng Lang nghe truyền xá nhân rồi tâu với Vua ban cho một lá cờ, một cán cờ dài 10 trượng, 1 voi khỏe mạnh thì ta sẽ giúp nước trừ giặc, vua không phải lo ngại gì. Xá nhân tâu lại với Vua, Vua mừng rỡ sai làm cán cờ dài 10 trượng, phái 5 nghìn binh lính đến phường Thị Tắc cùng với 112 người bản phường. Hoàng Lang lắc mình, bỗng cao 9 thước, tay cầm cán cờ 10 trượng, cưỡi lên lưng voi và hô to “Ta là tướng nhà trời” rồi thúc voi tiến. Đến sông Bạch Hạc, xã Thích Thượng, bên bờ sông thì trời tối, Hoàng Lang liền xông vào đội hình giặc, quyết trận đại chiến. Tướng giặc Vĩnh Trinh hoang mang, bỏ chạy, một số bị chém, số còn lại bị bắt, cả thảy đến hơn 3 nghìn thủ cấp. Dẹp yên giặc, Hoàng Lang trở về, Vua vui mừng cho mở tiệc thiết đãi vào ngày 12 tháng 9, phong thưởng cho các tướng sĩ. Sau khi Hoàng Lang trừ giặc được vài tháng, Vua muốn tiến phong vương vị nhưng ngài không nhận. Sau đó Hoàng Lang bị bệnh đậu mùa 3 tháng, các bậc lương y dâng thuốc mà không lành. Một hôm, Vua ngự thăm nơi nằm của Hoàng Lang thấy bệnh khó chữa bèn nói: “Nếu là con ta thì bệnh trọng cũng tự khỏi hà cớ phải cầu diệu dược lương y.”Nghe lời Vua, Hoàng Lang bèn thưa: “Ta thác làm con của Hoàng gia, không làm con của Hoàng đế. Ta vốn là con của thuỷ quốc Long Quân, do thế quốc lâm nguy mà thừa lệnh Hoàng Thiên thác nhập Hoàng Gia giúp nước. Nay đã trừ xong giặc, ta xin trở lại thuỷ quốc. Thiên đình cho hạn đâu dám trái lệnh.” Nhà Vua nghe xong, thấy làm lạ rồi phán với Hoàng Lang rằng: “Nay không phải con ta nhưng 1 ngày còn là quần thần có công với quốc gia, không thể không báo đáp. Trẫm muốn cấp thưởng cho tước lộc nhưng không biết làm thế nào.”
Hoàng Lang đáp: “Thần muốn, nguyên đất Bồng Lai là nơi mẹ sinh thành, lập 1 đền thờ phụng ân đức của mẹ. Một nơi tại phường Thị Tắc là nơi thần sinh và hoá tại đó.”
Ngày 10 tháng 2, Vua cho bách quan phụng giá đưa Hoàng Lang về đất Thị Tắc, đến đầu miếu, Hoàng Lang liền ngồi trên phiến đá. Vua ngự giá thấy văn võ, bách quan tả hữu, ngựa voi chầu hai bên. Vua hỏi Hoàng Lang: “Quốc thế thanh bình, muốn thưởng công lao cho các nơi thờ cúng thì phải làm thế nào?”. Hoàng Lang đáp: “Vua cha đã có lòng cảm thương sâu lặng, thần xin tung cờ lên, đâu nhìn thấy thì sẽ thờ phụng”. Khi ấy, trời đất bỗng tối đen, trên hồ sóng lớn, giao long nổi trên mặt nước, lại thấy cờ bay đến Sở Thượng. Như vậy, xã Sở Thượng, huyện Thanh Trì cũng là một trong những nơi được phép lập miếu, phụng thờ ngài. Có nguồn tài liệu khác lại ghi rằng khi quân Tống sang đánh, Linh Lang (Hoằng Chân) xin vua cấp 5000 quân và voi trận ra dẹp được. Sau tiệc mừng thắng trận, vua Lý Thánh Tông tỏ ý muốn nhường ngôi cho Hoàng tử Hoằng Chân, nhưng ông không nhận. Sau đó ít lâu, Hoằng Chân lâm bệnh nặng và qua đời.
Ngoài thờ phụng đức Linh Lang Đại Vương, hiện tại đình Sở Thượng còn thờ phụng đức Thái Phu Đại Vương đề trên bài vị tại Đại Bái đình “Đương cảnh thành hoàng Thái Phu Đại Vương từ hạ”.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Sở Thượng toạ lạc ở đầu làng, nhìn theo hướng Tây Nam, bao gồm các hạng mục Nghi Môn, Đại Bái, Trung Cung và Hậu Cung. Đại Bái gồm 5 gian 2 dĩ với bốn đao uốn cong. Các bộ vì liên kết thống nhất kiểu “Thượng giá chiêng chồng rường, hạ cốn, kẻ bảy hiên”. Trung Cung gồm 3 gian nối với ba gian giữa Đại Bái và Hậu Cung. Hậu Cung là không gian thiêng gồm 3 gian, kiểu tường hồi bít đốc.



