Đình Thái Khê
Giới thiệu
Đình Thái Khê được xếp hạng cấp quốc gia tại Quyết định số 3234/QĐ-BVHTTDL ngày 09/9/2005 của Bộ Văn hóa thông tin nay là Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch
Đình Thái Khê được xếp hạng cấp quốc gia tại Quyết định số 3234/QĐ-BVHTTDL ngày 09/9/2005 của Bộ Văn hóa thông tin nay là Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch
Đình Thái Khê thuộc thôn Thái Thượng Khê xã Kiều Phú, thành phố Hà Nội, đình nằm trong vùng có nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng như chùa Thái Khê (Thiên Quang tự), đình Thượng Khê, đình Đĩnh Tú, Văn chỉ thờ Nguyễn Trung Trực (đã bị phá hủy chưa có điều kiện để khôi phục)... Các di tích tôn giáo tín ngưỡng nằm cùng trong xã Cấn Hữu có mối liên kết với nhau rất chặt chẽ về mặt sinh hoạt tín ngưỡng, được thể hiện rõ nhất trong ngày lễ hội.
Đình Thái Khê quay hướng Tây Tây Nam, ở khu vực đầu làng, nằm trên ngã ba trục đường làng, trong đê bao sông Tích (cách đê khoảng 200m). Tương truyền, vị trí dựng đình được người xưa lựa chọn khá kỹ lưỡng, đình và chùa nằm ở trên đầu con cá chép, hướng về phía sông Tích. Phía trước đình là cánh đồng Lươn, cánh đồng Sòi, đồng Nấm, đồng Anh… Phía sau và bên trái, bên phải đều giáp khu dân cư đông đúc. Trước đây khuôn viên của khu di tích có quy mô lớn, không gian cảnh quan thoáng đãng, phía sau là Văn chỉ, bên trái là chùa Thái Khê. Hiện nay không gian của ngôi đình đã bị thu hẹp lại, do sự phát triển của giao thông, nhiều đường xá được mở rộng.
Mở đầu di tích là Nghi môn kiểu tứ trụ và bức bình phong mới được dựng lại trong những năm gần đây. Bức bình phong với ý nghĩa giúp khuất tầm nhìn đồng thời che chắn gió - những luồng khí từ bên ngoài vào trong đình. Phía sau là công trình chính của đình, cách nhau một khoảng sân rộng lát bằng gạch Bát. Công trình chính có mặt bằng tổng thể hình chữ Đinh, là sản phẩm tôn tạo lại. Theo các bậc cao niên trong làng thì công trình cũ có mặt bằng hình chữ Nhị gồm Đại bái và Hậu cung nằm cách nhau một khoảng sân lớn. Hậu cung được gọi là đình Trong chỉ để thờ cúng Thành hoàng, còn Đại bái cũ có quy mô lớn gồm 7 gian 2 dĩ là nơi hội họp của các chức sắc trong làng. Đáng tiếc là công trình này đã bị phá hủy trong thời kháng chiến chống Pháp.
Đình Thái Khê thuộc loại hình di tích kiến trúc tín ngưỡng, được dựng lên để thờ Thành hoàng là Trung Á đại vương, một vị tướng dưới thời Hùng Vương thứ 18. Các công trình kiến trúc của đình Thái Khê mặc dù đã bị tiêu thổ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhưng vẫn còn bảo lưu được một vài mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Bên cạnh đó, đình còn bảo tồn được nhiều giá trị văn hóa phi vật thể cùng các di vật có giá trị từ thời Lê Trung Hưng cho đến thời Nguyễn.
Đình Thái Khê quay hướng Tây Tây Nam, ở khu vực đầu làng, nằm trên ngã ba trục đường làng, trong đê bao sông Tích (cách đê khoảng 200m). Tương truyền, vị trí dựng đình được người xưa lựa chọn khá kỹ lưỡng, đình và chùa nằm ở trên đầu con cá chép, hướng về phía sông Tích. Phía trước đình là cánh đồng Lươn, cánh đồng Sòi, đồng Nấm, đồng Anh… Phía sau và bên trái, bên phải đều giáp khu dân cư đông đúc. Trước đây khuôn viên của khu di tích có quy mô lớn, không gian cảnh quan thoáng đãng, phía sau là Văn chỉ, bên trái là chùa Thái Khê. Hiện nay không gian của ngôi đình đã bị thu hẹp lại, do sự phát triển của giao thông, nhiều đường xá được mở rộng.
Mở đầu di tích là Nghi môn kiểu tứ trụ và bức bình phong mới được dựng lại trong những năm gần đây. Bức bình phong với ý nghĩa giúp khuất tầm nhìn đồng thời che chắn gió - những luồng khí từ bên ngoài vào trong đình. Phía sau là công trình chính của đình, cách nhau một khoảng sân rộng lát bằng gạch Bát. Công trình chính có mặt bằng tổng thể hình chữ Đinh, là sản phẩm tôn tạo lại. Theo các bậc cao niên trong làng thì công trình cũ có mặt bằng hình chữ Nhị gồm Đại bái và Hậu cung nằm cách nhau một khoảng sân lớn. Hậu cung được gọi là đình Trong chỉ để thờ cúng Thành hoàng, còn Đại bái cũ có quy mô lớn gồm 7 gian 2 dĩ là nơi hội họp của các chức sắc trong làng. Đáng tiếc là công trình này đã bị phá hủy trong thời kháng chiến chống Pháp.
Đình Thái Khê thuộc loại hình di tích kiến trúc tín ngưỡng, được dựng lên để thờ Thành hoàng là Trung Á đại vương, một vị tướng dưới thời Hùng Vương thứ 18. Các công trình kiến trúc của đình Thái Khê mặc dù đã bị tiêu thổ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhưng vẫn còn bảo lưu được một vài mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Bên cạnh đó, đình còn bảo tồn được nhiều giá trị văn hóa phi vật thể cùng các di vật có giá trị từ thời Lê Trung Hưng cho đến thời Nguyễn. Tại gian bên phải Đại bái đình Thái Khê đặt một ban thờ để phụng thờ vị lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trung Trực. Theo người dân địa phương cho biết, trước đây làng Thái Khê có văn chỉ để thờ Nguyễn Trung Trực, nhưng đã bị phá hủy trong thời kháng chiến chống Pháp, mãi đến năm 1998 mới đặt ban thờ trong đình để phụng thờ.
Tại đình Thái Khê còn bảo lưu được các bản thần tích thần sắc, 14 đạo sắc phong từ thời Lê Trung Hưng cho đến thời Nguyễn phong cho Trung Á đại vương, là một vị tướng lĩnh dũng lược tài ba, đã lãnh đạo quân sĩ tham gia chống giặc ngoại xâm ở thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tên thần được dùng là các mỹ tự tương ứng với công trạng của thần. Từ nhiều đời nay, nhân dân địa phương vẫn phụng thờ các vị thần với lòng thành kính. Điều đó cho thấy sức mạnh của tín ngưỡng thờ Thần, thờ Thành hoàng - những người có công với làng xã ở nước ta
Những dấu vết vật chất hiện còn trong đình Thái Khê cho thấy đình được dựng từ khá sớm, nhưng trong quá trình tồn tại, đình đã bị tiêu thổ kháng chiến. Đến nay, các công trình kiến trúc cũng đã qua nhiều lần tu sửa, tôn tạo, nhưng vẫn còn bảo lưu được nhiều giá trị lịch sử - văn hóa.
Đình được xây dựng để thờ Thành hoàng có công giúp nước, giúp dân làng Thái Khê chống giặc ngoại xâm. Tồn tại cho đến ngày nay, ngôi đình đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá của người dân nơi đây. Hàng năm, đình là nơi tổ chức các kỳ lễ hội với nhiều nghi thức, nghi lễ, trò chơi dân gian được thực hiện. Điều này đã góp phần truyền lại những giá trị văn hoá của cha ông cho các thế hệ trẻ sau này và đồng thời tăng sự gắn kết người dân nơi đây.
Đình Thái Khê còn là “bằng chứng sống”, gắn liền với những năm tháng đấu tranh dựng nước, giữ nước oanh liệt, hào hùng của các thế hệ cha ông qua nhiều giai đoạn lịch sử.
Căn cứ vào những tài liệu thành văn còn lưu giữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội Thần tích - thần sắc làng Hữu Quang tổng Thạch Thán phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây; cùng bản thần tích và 14 đạo sắc phong còn lưu giữ được trong đình Thái Khê cho biết: Thành hoàng làng là Trung Á đại vương. Sự tích về vị thần được thờ có thể tóm lược như sau:
Vào thời vua Hùng Duệ Vương của nước Văn Lang xưa, ở trang Yên Khánh, huyện Thượng Hiền, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam Hạ có một gia đình họ Đào tên Thiện, vợ là bà Nguyễn Thị Thuận, gia cảnh nghèo khó, sống bằng nghề kiếm củi nhưng hai vợ chồng luôn luôn lo làm điều thiện, đức độ lấy phước, tu nhân tích đức. Ông bà đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con. Một hôm, nghe tin ở trang Võ Diên, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn, đạo Bắc Ninh có một ngôi đền thiêng, ông bà bèn sắm lễ vật tới cầu xin. Được ứng mộng, ông bà làm lễ bái tại đền, rồi trở về nhà. Từ đó bà mang thai, đến ngày mồng 4 tháng Giêng năm Canh Tuất, bà sinh được người con trai thiên tư đĩnh dị, thể mạo khôi ngô. Ông bà đặt tên cho con là Trung Á.
Khi 7 tuổi, Trung Á chỉ đọc qua là biết, thuộc binh thư. Lớn lên giỏi võ lược, sức địch được hàng trăm người. Khi 19 tuổi, chỉ trong một đêm, cha mẹ Trung Á đều qua đời, ông chọn nơi mai táng, gia đường hương hỏa trọn 3 năm.
Khi ấy, bộ chủ Ai Lao là Thục Phán, nghe tin Duệ Vương tuổi đã cao mà không có người kế nối, ngôi báu đang định nhường cho Sơn Thánh, bèn phát động cầu viện các nước lân cận, chỉnh đốn tinh binh, tiến đánh Văn Lang. Tin từ biên cương cấp báo về ngày 5 lần, khiến Duệ Vương vô cùng lo lắng. Vua mời Sơn Thánh đến hỏi kế sách đánh giặc. Sơn Thánh tâu vua cử Trung Á Công làm tướng tiền đạo dẫn quân đi trước, còn Sơn Thánh dẫn đại quân đi sau tất phá được giặc. Vua y lời, phong Trung Á Công làm tiền đạo đương lộ tướng quân. Ông thống lĩnh năm ngàn quân thủy bộ đi trước. Hôm ấy ông tiến quân đến địa đầu khu Thái Khê, Thượng Khê và Đĩnh Tú thuộc trang Nghĩa Bang, huyện Ninh Sơn, phủ Quốc Oai. Thấy nơi đây có địa thế đắc địa, phong cảnh hữu tình, ông bèn lập một đồn binh để ứng phó sau lưng quân Thục. Dân trong khu trại kéo đến xin làm thần tử. Ông đã chọn ở đây được hơn ba ngàn trai tráng làm gia thần. Vào trung tuần tháng 9 có thư sai ông đi đánh giặc Thục ở đạo phía Bắc. Ông dẫn quân tiến thẳng đến đồn giặc ở Sóc Sơn. Ở đây ông bị quân Thục vây hãm 14-15 ngày, triều đình không biết mà cứu viện. Quân lính đói khát mỏi mệt, tình thế nguy cấp. Nhờ có mây mưa kéo đến giúp sức, quân ta theo sự chỉ huy của ông đã phá được vây, thu được nhiều khí giới lương thực… Thắng trận, ông dẫn quân trở về đồn sở ở trại Nghĩa Bang, làm tiệc khao thưởng gia thần binh sĩ và dân trại. Dân trại xin nơi đồn sở sau này làm đền thờ ông. Tướng công đồng ý và cấp cho 15 hốt vàng để dùng vào việc thờ cúng.
Đến ngày 22 tháng 5, ông theo mây mà hóa. Nhân dân làm biểu tâu về triều đình. Vua sai lập miếu thờ, cho dân các khu trại Nghĩa Bang làm dân hộ nhi, lại ban sắc tặng phong Hùng liệt trác vĩ Hộ quốc an dân Đại vương.
Đến thời vua Trần Thái Tông, giặc Nguyên đến xâm chiếm nước ta, kinh thành bị vây hãm, Trần Quốc Tuấn vâng mệnh vua đi cầu đảo bách thần ở các đền. Khi đến đền thờ Ngài cũng thấy hiển ứng âm phù, nên khi dẹp được giặc Ô Mã Nhi, vua Trần Thái Tông liền gia phong mỹ tự là Linh ứng Anh triết Dương lộ Hiển hựu đại vương. Đến thời vua Lê Thái Tổ được gia phong là Phổ tế Cương nghị anh linh. Lại ban sắc chỉ cho phép các khu Thái Khê, Thượng Khê, Đĩnh Tú trang Nghĩa Bang được trùng tu miếu điện để phụng thờ ngài. Các ngày tiệc sinh - ngày hóa và các chữ húy nhất thiết phải kiêng kỵ hai chữ Trung Á.
Về sau Trung Á còn hiển ứng âm phù giúp đỡ các triều Đinh, Trần, Lê dẹp giặc ngoại xâm, nên trải qua các đời vua đều được gia phong mỹ tự, miếu điện được trùng tu để thờ phụng lâu dài.
Tại gian bên phải Đại bái đình Thái Khê đặt một ban thờ để phụng thờ vị lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trung Trực. Theo người dân địa phương cho biết, trước đây làng Thái Khê có văn chỉ để thờ Nguyễn Trung Trực, nhưng đã bị phá hủy trong thời kháng chiến chống Pháp, mãi đến năm 1998 mới đặt ban thờ trong đình để phụng thờ.
Về lai lịch của Nguyễn Trung Trực đã được nhiều sử sách ghi chép, tại đình Thái Khê còn lưu một bản “Phụng kê khai Thần tự sự tích Thượng Khê” được lập ngày 23 tháng 3 năm Bảo Đại thứ 13 (1928) bằng chữ Nôm đã cho biết: Trung đẳng thần hiệu là Trực, nguyên xưa đời trước nhà Lê triều có họ là họ Nguyễn, là người ở Bối Khê làng, nay thuộc về tỉnh Hà Đông, làm quan, hưu trí hay xem đất, đến xã Nghĩa Hương trại [?] ở đấy, lấy vợ làm nhà ở đấy. Lên cầu tự ở Sài Sơn, đến 16 tháng 5 sinh ra được một người tên chữ là Công Đĩnh, tên húy là Trực. Năm 7 tuổi đã thông minh, đi học. Đến năm Nhâm Tuất khai khoa giáp, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ. Vua sai sang sử nhà Minh, gặp khoa thi đại các nước, lại đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ, thì vua nhà Minh thật lắm. Khi sang sứ về gọi là Lưỡng quốc Trạng nguyên, bốn phương sĩ tử theo học nhiều. Rồi vua nhà Minh họa hình tượng thờ để bên nhà Minh. Vua nhà Minh lại thưởng cho thể... hỏi thăm cho tiền bạc vô số. Đến khi ngài mất, nhà vua sức đưa về trại Nghĩa Bang, cho làm điện thờ, lăng tích ngài ở Bạch Thạch xã rất linh ứng. Trải qua các đời sắc phong cho ngài là Trung đẳng thần”.
Những dấu vết vật chất hiện còn trong đình Thái Khê cho thấy đình được dựng từ khá sớm, nhưng trong quá trình tồn tại, đình đã bị tiêu thổ kháng chiến. Đến nay, các công trình kiến trúc cũng đã qua nhiều lần tu sửa, tôn tạo, nhưng vẫn còn bảo lưu được nhiều giá trị lịch sử - văn hóa.
Đình được xây dựng để thờ Thành hoàng có công giúp nước, giúp dân làng Thái Khê chống giặc ngoại xâm. Tồn tại cho đến ngày nay, ngôi đình đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá của người dân nơi đây. Hàng năm, đình là nơi tổ chức các kỳ lễ hội với nhiều nghi thức, nghi lễ, trò chơi dân gian được thực hiện. Điều này đã góp phần truyền lại những giá trị văn hoá của cha ông cho các thế hệ trẻ sau này và đồng thời tăng sự gắn kết người dân nơi đây.
Đình Thái Khê còn là “bằng chứng sống”, gắn liền với những năm tháng đấu tranh dựng nước, giữ nước oanh liệt, hào hùng của các thế hệ cha ông qua nhiều giai đoạn lịch sử.
Đình Thái Khê với bố cục mặt bằng chính hình chữ Đinh gồm hai công trình chính là Đại bái và Hậu cung. Đình có không gian cảnh quan thoáng đãng, bao bọc xung quanh là làng mạc trù phú, đã tạo cho di tích một môi trường không gian kiến trúc hài hòa, uy nghiêm. Các công trình được phân bố hợp lý, nổi trội trên kiến trúc dân dụng làng xã, đáp ứng với khí hậu nóng, ẩm.
Mặc dù đình đã được tôn tạo lại sau khi bị tiêu thổ kháng chiến, nhưng vẫn còn giữ được một số mảng điêu khắc trang trí mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Trong đình còn lưu giữ được khá nhiều các di vật có giá trị như sắc phong, hệ thống đại tự, hương án, ngai thờ, bài vị… Trên các di vật này đều được trang trí, chạm khắc đẹp, có giá trị nghệ thuật trải dài từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn. Điều này đã chứng minh sự tồn tại lâu đời của ngôi đình, tạo nên vẻ đẹp đặc sắc cho ngôi đình nơi đây.
Đình Thái Khê đã trải qua nhiều biến thiên trong lịch sử, đến nay người dân vẫn phát huy tốt giá trị văn hóa phi vật thể. Nhân dân trong vùng và khách thập phương vẫn thường xuyên đến đây thắp hương và sinh hoạt tín ngưỡng. Ngoài ngày lễ hội chính vào tháng Giêng, lễ Thánh hóa vào tháng 5…trong năm còn nhiều lễ tiết truyền thống khác. Các nghi thức tế lễ có sự gắn kết của “tam thôn” (Thái Khê, Thượng Khê, Đĩnh Tú), các trò chơi dân gian được diễn ra thu hút được đông đảo người dân tham gia. Điều này cho thấy tâm thức tín ngưỡng của người dân được bảo tồn và lưu truyền qua nhiều thế hệ, tạo thành tinh thần văn hoá chung của người Việt, góp phần tạo nên bề dày văn hóa, sinh hoạt tín ngưỡng của vùng đất này. Thông qua hình thức tế lễ trong những ngày lễ hội, sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tại di tích, chính là dịp gắn kết cộng đồng làng xã, lưu giữ và kế thừa truyền thống bản sắc văn hoá làng, góp phần lưu giữ và truyền lại những giá trị văn hoá cho lớp thế hệ trẻ phía sau.