Đình Thanh Dương
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Loại hình và Xếp hạng: Là di tích Kiến trúc Nghệ thuật. Được Bộ Văn hóa Thông tin, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số 680 QĐ/BT ngày 19/04/1990 công nhận và xếp hạng là Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp Quốc gia.
2. Nhân vật thờ phụng và Giá trị lịch sử
Nhân vật thờ phụng: Đình thờ Thành hoàng làng là vị anh hùng dân tộc - Hoàng đế Lê Hoàn (Lê Đại Hành). Ông có công lớn trong việc thay nhà Đinh lập nên triều Tiền Lê, lãnh đạo quân dân đánh tan quân Tống ở phía Bắc và dẹp quân Chiêm Thành ở phía Nam, bảo vệ vững chắc bờ cõi và đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước.
Sự kiện lịch sử: Truyền thuyết địa phương kể lại rằng, trên đường hành quân đánh Chiêm Pa, vua Lê Hoàn đã dừng chân tại khu đền Thượng gần sông Đáy thuộc Thanh Dương. Sau khi vua băng hà, nước ta lập 17 đền thờ, trong đó có đình Thanh Dương.
3. Đặc điểm Kiến trúc - Nghệ thuật
Vị trí và Bố cục: Đình tọa lạc ở phía Tây Nam của làng, hướng Tây Nam, phía trước có ao đình và đê sông Đáy, gần đó có cây đa cổ thụ hàng nghìn năm tuổi. Đình có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm tòa Đại bái và Hậu cung.
Kiến trúc Đại bái: Gồm 3 gian 2 dĩ, giữ được 4 đầu đao cong vút, mái lợp ngói ri cổ. Bờ nóc đắp 2 con kìm và bầu rượu, bờ dải đắp nghê và xô. Hệ thống cột cái rất lớn (chu vi 1,70m), vì nóc kiểu chồng rường. Mặc dù khởi dựng từ thời Lê nhưng qua kiến trúc và dòng chữ trên câu đầu, có thể khẳng định đình được tu bổ lớn vào thời Nguyễn (năm Giáp Tuất 1814 hoặc 1874).
Nghệ thuật điêu khắc: Đại bái được trang trí lộng lẫy bằng các bức cốn, đầu dư, cửa võng, hoành phi, câu đối. Nổi bật là bức cốn chạm tích "Ngư long hí thủy" (rồng lượn trong mây, cá chép, cua, hoa sen) và bức cốn "Tứ linh truyền bát" (Long, ly, quy, phượng, cá chép, nghê, sấu). Bức cửa võng sơn son thếp vàng chạm "Lưỡng long chầu nguyệt", "Tứ linh", "Tứ quý". Hậu cung lưu giữ 2 bức cốn chạm rồng mang phong cách điêu khắc thời Lê đậm nét nhất.
4. Hệ thống Di vật, Cổ vật
Tài liệu giấy: Đình giữ được Bản thần phả chữ Hán và 20 đạo sắc phong từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn (sớm nhất là các sắc năm Hoằng Định thứ 2 - 1601, Vĩnh Tộ thứ 2 - 1620).
Đồ gỗ: Đặc biệt có bộ Long ngai bài vị thời Lê với dòng chữ "Liệt Hoàn linh ứng Thượng đẳng tối linh Đại quốc Vương thần vị". Ngoài ra còn có hòm sắc, 1 cỗ kiệu bát cống, 1 hương án, 12 gươm trường bát bửu, 2 hoành phi, 4 đôi câu đối.
Đồ đá, sứ, đồng: Gồm 2 bát hương đá, 2 bia hậu, 4 bát hương sứ, 2 lọ hoa, 2 hạc đồng.
5. Công tác bảo vệ và Khoanh vùng di tích
Theo biên bản ngày 29/01/1991, di tích được phân định thành 2 khu vực bảo vệ:
Khu vực bảo vệ (Khu vực I - Bất khả xâm phạm): Là khu vực có các di tích trên thửa đất 195B và hai ao đình (thửa 230 và 88). Ranh giới: Đông giáp ao đình (thửa 230), Tây giáp ao đình (thửa 88), Nam giáp ao (thửa 88, 230), Bắc giáp thửa 195B. Tuyệt đối cấm xây dựng, tháo dỡ, vi phạm trong khu vực này.
Khu vực điều chỉnh xây dựng (Khu vực II): Gồm đoạn đường đi sau lưng giếng và ao số 230. Ranh giới: Đông, Tây, Nam giáp ruộng canh tác; Bắc giáp thửa 147, 195A, 146. Mọi hoạt động xây dựng tại đây phải xin phép UBND tỉnh và có ý kiến của Sở/Bộ Văn hóa.



