Đình thôn Công nằm ở phía Tây thị xã Hà Đông, tới di tích ta có thể đi theo đường trục chính như sau:
Từ phường Hà Đông theo đường Quốc lộ 6A, đến ngã ba Ba La rẽ trái theo tỉnh lộ 21B đi Vân Đình, đến địa phận xã Bích Hòa nay là xã Bình Minh rẽ phải theo đường liên xã lên đê sông Đáy khoảng 7km là tới thôn Công. Đình nằm ở ven làng.
Từ phường Hà Đông theo Quốc lộ 6A tới đầu cầu Mai Lĩnh rẽ trái men theo đường đê sông Đáy khoảng 3,4km tới đầu làng thì rẽ trái đi 700m là tới di tích.
Đường đi thuận tiện cho mọi phương tiện giao thông đường bộ.
Theo các tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ tại Đình Thôn Công cùng lời kể của các bậc cao niên trong làng, đình thờ Đức Đại vương Hoàng Khắc Minh làm Thành hoàng làng. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngài được lưu truyền qua nhiều thế hệ và trở thành niềm tự hào của nhân dân địa phương.
Đức Đại vương Hoàng Khắc Minh, tên chữ Hòa Tĩnh, hiệu Thủy Hiên Tiên Sinh, sinh năm Quý Dậu (1453) trong một gia đình có truyền thống Nho giáo. Quê của Ngài ở làng Huyền Khê, sau đổi thành Huyền Sỹ, rồi Đan Sỹ, thuộc huyện Thanh Oai xưa, nay là làng Đa Sỹ, phường Kiến Hưng, thành phố Hà Nội.
Ngài là cháu đích tôn của Hoàng Trình Thanh, một danh nhân có đức nghiệp lớn của nước ta dưới thời Lê Sơ. Từ nhỏ, Ngài đã nổi tiếng thông minh. Do cha mất sớm nên Ngài được ông nội trực tiếp nuôi dạy từ thuở ấu thơ. Trong quá trình trưởng thành, Ngài được tiếp thu những tư tưởng lớn của Nho giáo như "từ hiếu thấu trung", đề cao đạo hiếu, "trí nhân đại nghĩa", thực hành khí tiết "công minh chính trực". Chính những tư tưởng ấy đã hun đúc trong Ngài chí hướng giúp vua, giúp nước từ khi còn rất trẻ.
Khi Ngài lên mười tuổi, ông nội qua đời. Vua Lê Thánh Tông vô cùng thương tiếc nên đã cử 50 vị quan trong triều về phúng viếng. Cũng từ lễ tang của ông nội, Ngài có dịp hiểu thêm nhiều điều về lễ nghi và phép tắc nơi quan trường, tạo nền tảng cho con đường làm quan sau này.
Mãi đến năm 32 tuổi, dưới triều vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (Giáp Thìn – 1484), Ngài mới tham dự khoa thi và đỗ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân.
Sau khi đỗ đạt, Ngài được vua Lê Thánh Tông tin tưởng bổ nhiệm giữ chức Bồi tụng Lễ bộ Hữu Thị lang. Trong công việc, Ngài luôn nổi tiếng là người thanh liêm, ngay thẳng và tận tụy, vì vậy tiếp tục được nhà vua thăng chức Đông Các Đại học sĩ.
Một câu chuyện tiêu biểu về phẩm chất cương trực của Ngài vẫn được lưu truyền đến ngày nay. Tương truyền, sau một lần đến thăm Đại Đình trở về, vua Lê Thánh Tông có ý định phế Hậu, lập Phi. Trước sự việc đó, Đức Đại vương Hoàng Khắc Minh đã dâng sớ can gián.
"...Khuê môn chính thủy nghi đôn lâu chỉ chi phong. Trường thiệt lệ giai hạp liệp thân hóa chỉ dụ..."
Có nghĩa là:
"Chốn khuê môn nên tăng thêm sự cần phong cách đôn hậu, rực rỡ. Sao chẳng nhớ cái tích con Tô Vũ và câu nói 'lưỡi dài là cái thang tai họa' vậy."
Sau khi đọc tờ sớ, vua Lê Thánh Tông đã hết lời khen ngợi:
"Ta có một bầy tôi thẳng thắn chính trực, xã tắc có người bầy tôi chân chính."
Ý định phế Hậu, lập Phi của nhà vua sau đó được bãi bỏ. Cũng từ sự việc này, Đức Đại vương Hoàng Khắc Minh được thăng chức Thượng thư Bộ Lễ và được ban tước Lương Nhân hầu.
Trong thời gian đương nhiệm, Đức Đại vương Hoàng Khắc Minh nhiều lần được phụng mệnh đi sứ và đi kinh lý kiểm tra các địa phương trong cả nước. Với Ngài, mỗi nhiệm vụ đều là trách nhiệm lớn lao đối với triều đình và nhân dân. Trong quá trình làm việc, Ngài luôn giữ thái độ cẩn trọng, công minh, phân rõ đúng sai, xét người xét việc thấu tình đạt lý.
Không chỉ coi trọng phẩm chất của con người, Ngài còn đặc biệt quan tâm đến đời sống của nhân dân. Theo truyền tụng, Ngài đã đem bổng lộc của mình chia sẻ với người dân ở những nơi Ngài đi qua. Với tấm lòng nhân hậu, Ngài luôn mong muốn mọi người sống nhân nghĩa, đoàn kết và yêu thương nhau.
Bên cạnh đó, Ngài thường xuyên khuyên bảo con cháu và nhân dân chăm lo học hành từ khi còn trẻ để sau này có cơ hội cống hiến cho đất nước. Ngài luôn động viên mọi người giữ niềm tin vào tương lai, lấy việc học tập và tu dưỡng đạo đức làm nền tảng để lập thân, lập nghiệp.
Với phẩm chất thanh liêm, đức độ và tài năng, Đức Đại vương Hoàng Khắc Minh luôn được vua tin tưởng và trọng dụng. Đến năm 70 tuổi, Ngài xin cáo quan về quê.
Sau khi trở về quê hương, Ngài tiếp tục dành thời gian chăm lo, dạy dỗ con cháu học hành. Nhân dân trong vùng đều kính trọng và mong muốn được gần gũi để nghe những lời chỉ dạy của Ngài. Vì vậy, nhà vua cũng nhiều lần ban tặng cho Ngài những phẩm vật quý để ghi nhận công lao và đức hạnh.
Đến giờ Thìn, ngày 12 tháng Chạp năm Giáp Ngọ (1534), Đức Đại vương Hoàng Khắc Minh thanh thản quy tiên, hưởng thọ 82 tuổi.
Sau khi Ngài qua đời, nhân dân nhiều làng trong vùng, trong đó có làng Công thuộc tổng Đông Dương, đã đến từ đường họ Hoàng làm lễ yết, xin cung thỉnh hành trạng và duệ hiệu của Ngài về thờ làm Thành hoàng làng.
Đình Công tọa lạc theo hướng Tây Nam nằm trên dải đất địa linh nhân kiệt của vùng Thanh Oai. Xa xa nhìn về phía bên phải của di tích là dòng sông Đáy lịch sử, phía trước là cánh đồng bạt ngát. Các yếu tố tự nhiên này đã phần nào khẳng định thêm tính chất "thiêng" mà các bậc tiền nhân đã chọn hướng và vị trí để xây dựng đình. Với con sông Đáy bên hữu theo như thuyết phong thủy thì đây chính là dòng lưu thủy đã góp phần tạo nên một vùng tự khí anh linh trong đất đai Hà Tây địa linh nhân kiệt này.
Quần thể di tích hiện nay gồm các hạng mục kiến trúc chính như: Nghi môn, Đại bái, Hậu cung. Đình cũng có hệ thống sân lát gạch, đất đai khu di tích và vườn trồng cây ăn quả. Nguyên xưa đình Công có đầy đủ các hạng mục kiến trúc như: Tả hữu mạc, Đại bái và Hậu cung. Nhưng trải qua chiến tranh cùng với thời gian nên Tả hữu mạc đã bị hư hỏng. Hiện nay, hạng mục kiến trúc chính của đình Công bao gồm: Nghi môn, hệ thống sân lát gạch, Đại bái và Hậu cung.
Hạng mục ta gặp đầu tiên khi vào di tích là cổng đình, với địa thế riêng của mình đình Công đã không mở cổng phía trước như những ngôi đình truyền thống khác, mà mở cổng ở phía bên hữu của đình. Cổng đình Công được xây hai trụ biểu hai bên, trên trụ biểu đắp ô lồng đèn, thân trụ biểu được đắp các gờ chỉ nổi. Cổng chính được mở khi làng có hội, bên cạnh cổng chính mở một cổng nhỏ làm lối đi ngày thường.
Từ cổng vào hạng mục đầu tiên ta gặp là nghi môn trụ biểu, với hai trụ biểu đá sỏi. Trên đỉnh trụ đắp nổi tứ phương châu cách điệu hóa rồng. Phượng là biểu tượng cho sự vận hành của vũ trụ, tượng trưng cho sự chuyển động của bầu trời gần với truyền năng của thánh nhân. Phượng đứng trên trụ biểu tượng trưng cho trục âm dương - trục vũ trụ, nối thế giới dương gian với thế giới tâm linh, đem sinh khí từ trời truyền xuống cho đất mẹ. Tiếp đến là mặt sập hồ phù, hồn gốc có bốn đầu rồng vươn ra bốn hướng uy nghi. Bên dưới là ô lồng đèn hai mặt có đắp nổi các gờ chỉ trang trí, bên trong ô lồng đèn đắp các tích "tứ linh" (long, ly, quy, phượng). Thân trụ có ghi các câu đối bằng chữ Hán nhằm ca ngợi cảnh đẹp ngôi đình cũng như công đức của thành hoàng làng. Hai trụ biểu về hai bên là hai bức tường lửng.
Từ nghi môn qua một khoảng sân rộng lát gạch bát cố là tới tòa đại bái đình Công. Đại bái đình Công được làm 3 gian nhà ngang đầu hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói cổ, bờ nóc, bờ giải đắp chỉnh, hai đầu bờ nóc đắp đầu đinh.
Vào bên trong các bộ vì kèo mái được làm thống nhất theo một kiểu: "Giá chiêng, kẻ chuyền trêu quá giang trốn hàng cột". Nối hai đầu cột trôn theo kiểu xẻ mộng đầu cội là một câu đầu lớn khỏe hai đầu tên lưng câu đầu do hai trụ trôn trên một đầu kê mộng hình vuông thoi đáy. Hai đầu trụ trôn ăn mộng vào hai kẻ do thượng lương. Kẻ ăn mộng từ trụ trôn qua cột trôn hợp với quá giang để đỡ hoành thượng và hoành hạ. Toàn bộ bộ vì tựa lực trên quá giang. Các bộ vì Đại bái còn được liên kết với nhau bởi hệ thống các xà thượng và xà hạ chạy dọc nhà. Mặt trước Đại bái mở ba cửa làm lối đi khi vào lễ thánh.
Hậu cung đình Công là ba gian nhà ngang được làm theo kiểu "Nội tư ngoại hiện". Nhìn từ bên ngoài, hậu cung đầu hồi bít đốc hai mái chảy lợp ngói, bờ nóc đắp bờ chỉnh, hai đầu bờ nóc đắp hai "Hậu chỉnh", xuống dưới bờ giải xây tay ngại bằng vôi vữa. Vào bên trong bộ vì kèo mái ngoài được làm hai kiểu khác nhau chút ít: Hai bộ vì gian hồi được làm theo kiểu "cồn mê" các bức cồn là tam giác vuông có cạnh huyền dựa hoành, các bức cồn được chạm khắc rất tinh vi và tỷ mỉ, với các đề tài dân gian như: Tích "tứ linh" (long, ly, quy, phượng) và đề tài "tứ quý" (tùng, cúc, trúc, mai), "long quần thủy" hoặc rừng cây muông thú...
Hai bộ vì giữa được làm theo kiểu "cồn mê". Các bức cồn ở đây cũng được làm theo hình tam giác cân trang trí trên cồn là hoa văn triện tàu lá giát. Nhìn chung tiền nhân tạo tác các đề tài như long quấn thủy là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
Vào bên trong cung, bộ vì kèo mái được làm khác nhau chút ít: Hai vì gian giữa được làm theo kiểu: "thượng chồng giường con nhị, hạ giường nách kẻ". Nối hai đầu cột cái là một câu đầu to khỏe, tên lưng câu đầu đỡ 2 nương, còn nương nằm áp sát câu đầu được cắt khúc biến thể thành con nhị.
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
Lễ hội làng Công có từ khi nào chẳng ai còn rõ, song với ý thức bảo lưu giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để lại, nhân dân làng Công cứ truyền từ đời này qua đời khác, năm sau tế diễn lại như năm trước. Lễ hội truyền thống của làng diễn ra với ý thức là đề cao, tôn kính vị thần mà mình thờ, mặt khác là củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng của cư dân nông nghiệp. Lễ hội của làng diễn ra đều đặn hàng năm, từ ngày 11 đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch làng lại tổ chức lễ hội.