Câu chuyện điểm đến
01GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH ĐÌNH THU THÔN HỮU VĨNH
Kính chào quý khách!
Xin mời quý khách cùng bước dân di sản ven sông Đáy cùng ghé thăm di tích Quốc gia đình Thu thôn Hữu Vĩnh, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội, một di tích cổ kính của xã Hòa Xá, là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử văn hóa và tín ngưỡng truyền thống, góp phần gìn giữ hồn quê qua bao thế hệ.
Đình Thu được xây dựng trên một diện tích rộng khoảng 1502,5 m² với các mặt giáp ranh như sau:
+ Phía Bắc giáp đường bê tông và dân cư
+ Phía Tây: giáp đường bê tông
+ Phía Nam: giáp sông Đây
+ Phía Đông giáp khu dân cư

021. Giá trị của di tích Di tích
Đình Thu thôn Hữu Vĩnh, xã Hòa Xá được Bộ Văn hoá - Thông tin Thể thao và Du lịch về việc công nhận là di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp Quốc Gia theo Quyết định số 1057/QĐ-BT ngày 14/06/1991.
Đình Thu thôn Hữu Vĩnh là di tích kiến trúc tôn giáo thờ Thánh. Là nơi tưởng niệm vị thần có công dựng nước và giữ nước “Nhất vị Đại vương công thần thời Lý Nam Đế. Sự tích vị thần được Bộ lễ Nhà nước ghi vào Bộ sách Khảm chỉ liệt vào hạng Thượng Đẳng Thần". Đình ra đời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng làng xã. Đình còn là nơi tụ hội của làng xã là nơi sinh hoạt văn hoá tinh thần. Đình Thu công trình kiến trúc này tương truyền được xây dựng từ cổ xưa. Hiện nay quy mô kiến trúc của Đình kiểu chữ Nhất (-) có sản thờ ở gian giữa, đó là loại kiến trúc đình sàn cổ Việt Nam. Đình được trùng tu lớn vào đầu thời Nguyễn. Trong Đình còn nhiều mảng chạm khắc, đầu dư, giường cụt là điêu khắc đậm nét thời Lê.
Đình Thu được xây dựng ở phía Tây Nam của làng. Đình nằm ở ngay sát bờ sông Đáy, cửa Đình nhìn xuống dòng sông, dựa lưng vào làng ba bể có dân cử đông đúc. Đình Thu cảnh quan rất đẹp, trên bến dưới thuyền với cây đa vươn cao toả bóng mát, luỹ tre làng, mái Đình in bóng lung linh đáy nước tạo nên một cảnh quan quen thuộc của làng Việt Nam. Theo đạo Phật hướng Tây là hướng của sự ổn định, là miền của Trí tuệ, diệt trừ ngu tối, cũng là hướng của Phật pháp, ngoảnh mặt về hướng Tây Nam để tu luyện sẽ dễ dàng đạt được thanh thản, ổn định trong tư tưởng mà gạt bỏ được cõi u mê để đi đến miền giác ngộ, tới được chân lý của đạo Phật.

Hiện tại kiến trúc Đình Thu gồm các hạng mục công trình: Nghi môn ngoại, Nghi môn nội, Đình chính, nhà Khách, nhà Bếp, nhà Vệ sinh, Bể nước, Am hoá sở.
Hiện nay Đình Thu thôn Hữu Vĩnh còn lưu giữ tới 24 sắc phong ghi nhận công lao của ngài Xung Lang là vị thần "Xưa nay giúp nước, giúp dân, nhiều lần linh ứng" xếp vào loại tối linh thần ở trời Nam. Sắc phong cổ nhất thuộc triều Vua Lê hiệu Vĩnh Tộ. Năm thứ 6, tức năm 1624, Sắc phong muộn nhất là vào năm Bảo Đại thứ 15 triều Nguyễn tức là năm 1940. Hệ thống hoành phi, câu đối bằng chữ hán bày đặt ở Đình cũng là nguồn tư liệu rất quý, chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của các bậc sĩ tử và nhân dân trong vùng đối với vị thần như các hoành phi "Vạn cổ anh linh" (muôn thủa anh Linh) "Nam Thiên Thượng đẳng" (Thần Thượng đẳng ở trời Nam).
Giá trị lịch sử của di tích:
Đình Thu thôn Hữu Vĩnh thờ một vị thần, một tướng tài đã phò giúp Vua Lý (Lý Nam Để) ở thế kỷ thứ VI xây dựng đất nước Vạn Xuân, chống lại kẻ thù xâm lấn nước ta ở vùng biên giới phía Nam. Sau khi dẹp xong giặc ông được nhân dân ngưỡng mộ lập Đình thờ để đời đời hương hoả uy linh của ông, tinh thần yêu nước của ông đã tiếp sức cho các thế hệ đời sau, viết tiếp những trang sử chói lọi về chủ nghĩa yêu nước chống lại bọn xâm lược, bảo vệ bờ cõi đất nước do Vua Hùng gây dựng.
Dựa vào nguồn đã ghi lại trong thần tích chúng ta biết thêm Đình từng là nơi nghỉ của Vua Đinh Tiên Hoàng trên đường cầm quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, Đình cũng là nơi người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đến bái yết trước lúc mang quân đi đánh thắng giặc Nguyên Mông. Thời chống Pháp xâm lược. Đình Thu cũng là nơi che chở các anh bộ đội cụ Hồ tiếc sức cho các anh đánh bại kẻ thủ của dân tộc.
Nghiên cứu Đình Thu cho ta thấy giá trị lịch sử - văn hoá còn chưa đựng trong kiến trúc trang trí điêu khắc những di vật chứng minh sinh động, nó giúp cho chúng ta hiểu được phần nào khía cạnh của lịch sử, hiểu được tâm tư tình cảm, năm biết được những nét đẹp, tâm hồn của con người Việt Nam xưa.





















