Đình Thượng Đình, thôn Thượng Đình, xã Thường Tín, thành phố Hà Nội
Giới thiệu
Tam thôn Thượng Đình, xã Nhị Khê, tổng Cổ Hiền, huyện Thượng Phúc, xứ Sơn Nam nguyên là nơi thờ bốn vị chính thần, hiện nay do bối cảnh lịch sử, biến thiên của tự nhiên nên tại đình Thượng Đình hiện nay thờ Linh Lang Đại Vương và có sự tích được tóm tắt như sau:
Linh Lang Đại Vương vốn là vị thuỷ thần của nước Nam, rất mực linh thiêng. Xưa, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra thành trăm người con trai, không nuôi dưỡng mà tự lớn lên. Lạc Long Quân bèn cứ năm mươi người con trai xuống thuỷ phủ, chia nhau cai quản các vùng biến. Nâm mươi người con lên núi cao, chia nhau cai quản các vùng đất, ấy gọi là thời Hùng Vương. Linh Lang Đại Vương là con trưởng trong số năm mươi người con trai theo chả xuống biển. Buổi đầu thường hiển linh ở vùng Sơn Nam Hạ, nơi đầu nguồn sông Hoàng Giang. Tài hô mưa gọi gió, dời núi đắp đê của Ngài thật là ly kỳ. Đến thời Hoàng đế Lý Thái Tông, niên hiệu Thông Đoan, vào một đêm, vua nằm mộng thấy thần Linh Lang đến, thân bái yết xong thì nói rằng: Ta khi chết sẽ làm Hoàng tử. Vua tỉnh mộng, quả nhiên trong cung sinh một nam tử. Về sau rất mực thông minh. Năm lên tám tuổi thì bị bệnh Đậu chẩn, không chữa khỏi được, khi mất làm Huyền Ngoan, hoà vào dòng Tô Giang mà chảy. Vua rất là thương xót và cho lập đền thờ ở bờ sông thôn Da Kiều và lệnh cho dân ở đó thờ cúng. Về sau phong nguyên hiệu là Linh Lang Đại Vương, từ đó thần rất linh thiêng. Sau, lại bao phong là: Kỳ Tình Đảo Vũ Anh Linh, uy vũ của Ngài sáng ngời, sánh cùng các vị thần, hãn hoạn trừ tai. Ngài hiển ứng cùng Bạch Mã, Cao Sơn là anh em làm linh thần của nước Nam. Người đời truyền nhau thờ phụng, đó là một trong bốn vị thần linh thiêng nhất được thờ phụng ở nước ta.
Đến thời vua Lê Nhân Tông, vào năm Kỷ Ty, Canh Ngọ là hai năm liên tiếp gặp đại hạn, vua ra lệnh cho hương ấp các nơi lập miếu để tiện việc cầu đảo. Đến nay, ba thôn Thượng Đình ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tổng Cổ Hiền đều có đền thờ tự, thần uy hiển hách, mũ áo bao phong, ngàn năm hương hoả không dứt. Nay, đội ơn mà khâm tặng thần hiệu: Diệu Hoá Hiệp Linh Trợ Thuận Tá Chính Hiển Phù Hoằng Hợp Đẳng Phúc Thần.
Tam thôn Thượng Đình, xã Nhị Khê, tổng Cổ Hiền, huyện Thượng Phúc, xứ Sơn Nam nguyên xưa có một ngôi đình chung là đình Ba Chạ. Đây chính là nơi hội tụ của nhân dân trong cả xã trong các ngày tiệc, hội hè. Đó chính là một ngôi đình cổ nhất, to nhất của Nhị Khe xưa được xây dựng ở vị trí trung tâm của cả xã, nhưng đã bị thực dân Pháp huy hoại trong thời kỳ chúng xây dựng bốt chùa Thông vào năm 1948. Hiện tại địa điểm của ngôi đình Ba Chạ xưa chính là ngôi trường THCS xã Nhị Khê và dấu tích hiện hữu Tà máy cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi trong khuôn viên trường, ban thờ 2 vị tướng bằng đá mà hiện nay đã được nhân dân thôn Thượng Đình chuyển về đặt tại vị trí phần phía ngoài tiếp giáp với đại bái đình Thượng. Tại sân trường vào những ngày mưa to, đất bị xối mòn sẽ lộ ra những chân đá tảng.
Ngôi đình thôn Thượng hiện tại nằm ngay tại vị trí đầu làng kết cấu kiểu chữ đinh với đại bái phía trước, hậu cung chạy dài phía sau. Hiện tại cảnh quan di tích còn gần như nguyên vẹn với các hạng mục: ao đình, nghi môn trụ biếu, sân đình rộng rãi, tả hữu mạc, đại bái, hậu cung.
Ngay từ phía ngoài đường giao thông, chúng ta đã nhìn thấy rõ cảnh quan của quần thể di tích đình Thượng ẩn hiện sau lùm cây xanh cổ thụ phía trước đình, tạo một khung cảnh, không gian bình yên của một làng quê Việt Nam truyền thống với "cây đa giếng nước sân đình".
Hạng mục đầu tiên chúng ta gặp đó chính là ao đình được nhân dân địa phương thả sen quanh năm, tiếp đến là hệ thống Nghi môn trụ biểu với 2 trụ biểu chính và 2 trụ nhỏ 2 bên. Trên đỉnh trụ biểu chính có đặt nghê chầu, khoảng cách giữa 2 trụ biểu được xây một bức bình phong, phần diềm trên trang trí hình cuốn thư, bên trong có ghi 4 chữ Hán, phần dưới trang chí chữ thọ. Bức bình phong này được dựng lên nhằm mục đích chắn những uế tạp đưa vào di tích. Về hai phía của di tích là 2 dãy tả hữu mạc với 3 gian kết cấu vì kèo vững chắc đã được nhân dân tu sửa lại năm Canh Ngọ - 1990.
Đại bái đình Thượng gồm 5 gian tương ứng với đó là 6 bộ vì trên mặt bằng 4 hàng chân cột. Thượng lương có ghi niên đại Thành Thái tam niên.
Hai mái chảy lợp ngói ri, phần bờ nóc chính giữa có hình tượng hổ phù cõng mặt trời, hai đầu bờ nóc có 2 trụ đấu và 2 con kìm ngậm bờ nóc, bỏ giải đắp bờ đình, cuối bờ giải xây giật cấp. Nối từ hai trụ biểu tới đầu hồi đại bái là 2 gian nhỏ dùng để thờ nhị vị tướng bằng đá. Đây cũng chính là 2 vị được nhân dân rước từ đình chung Ba Chạ về sau khi bị giặc Pháp phá hoại vào năm 1948. Các bộ vì bên trong Đại bái với kết cấu chồng rường giá chiêng, phần tiếp giáp giữa đầu cột quân với thân cột cái là hệ thống xà nách, phía trên là kẻ ngồi. Tại gian giữa phía trên có treo hoành phi đề 4 chữ: "Huệ ngã đồng nhân" có nghĩa là đem ơn huệ ban tưới khắp cho mọi người. Hai gian bên là 2 bức hoành phi với: "Chí thành khôn nguyên", "Âm dương hợp đức". Tiếp giáp phía dưới là cửa võng được chạm khắc với đề tài chủ yếu là hoa cúc thể hiện ước vọng cầu bình an của mọi người đối với mọi nhà. Tại cột cái gian giữa đáng chú ý là đôi câu đối ca ngợi công đức vô lượng của thành hoàng làng. Câu đối có nội dung:
Nguyên văn chữ Hán:
"Tối tú tối linh thánh đức nguy chiếu phù quốc thái;
Nãi văn nãi vũ thần công hạo dã hộ dân khang".
Dịch nghĩa:
"Rất đẹp đẽ, rất linh thiêng, ân đức của thánh rọi chiếu phù hộ cho tổ quốc thái bình;
Đây văn chương, đây võ công, công của thần sáng rực bảo hộ cho dân được an lành".
Hậu cung đình Thượng nằm xuôi về phía sau theo kiểu chuôi vồ, phần hiên chia làm 3 gian không đều, gian giữa có bài trí một hương án thờ, bên trên có để các đồ thờ tự. Phần hiên Hậu cung với 3 cửa, cửa giữa để lửng, phần tường 2 gian bên có đề bài trâm. Hậu cung bên trong bài trí một khám thờ, bên trong có long ngai bài vị thành hoàng và trang phục mũ...Nhìn chung kết cấu gỗ trong di tích với nghệ thuật điêu khắc vào thời Nguyễn, chủ yếu được bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc. Di vật đáng chú ý và nghiên cứu trong di tích là bộ kiệu Bát với phong cách nghệ thuật điêu khắc thời Lê.
Làng Thượng Đình được mở trong một năm có 3 kỳ lễ hội. Kỳ thứ nhất từ ngày mùng 5-6-7 tháng 2, Kỳ thứ hai từ ngày 8-9-10 tháng 5, Kỳ thứ ba ngày 8-9-10 tháng 11 âm lịch. Trong đó lễ hội tháng Hai được tổ chức lớn hơn một chút về quy mô lễ hội. Đây là một lễ hội làng thuần tuy của cư dân nông nghiệp lúa nước, lễ hội không liên quan đến ngày sinh, ngày hóa của thành hoàng làng nhưng lại gắn bó chặt chẽ với không gian thiêng (đình – đên - chùa làng) nơi diễn ra lễ hội.
Theo lệ làng để chuẩn bị mở hội đám ngay từ những ngày đầu tháng đã lây chính ngày đó là ngày động trống để bàn việc làng và thành lập ban tổ chức lễ hội năm mới. Ban tổ chức có nhiệm vụ họp 2 giáp của làng gồm giáp Thượng và giáp Đoài để triển khai chuẩn bị lễ vật và cắt cử người tham gia các vị trí phục vụ cho lễ hội của làng. Trong mỗi giáp lại cử ra bốn ông Lềnh (trong đó có một ông Lềnh trưởng), các tuần đinh và cắt lượt gia đình trong giáp mình vào các công việc cụ thể như: cầm cờ, khênh kiệu
Tiếp đó tất cả mọi người trong làng đều tham gia quét dọn đường làng, ngõ xóm, sân đình, chồng kiệu và cấm cờ, hoa, làm cây nêu. Riêng cụ từ lo việc vệ sinh trong nội tự đình làng. Trước ngày làng vào tiệc chính, ban tổ chức lễ hội chỉnh đốn và kiểm tra lại toàn bộ sự chuẩn bị đó. Sang ngày mùng 5 từ 7h30 đến 8h các quan viên, dân làng đem kiệu do các giáp chuẩn bị từ trước rước nước từ một cái giếng duy nhất ở giữa đồng về đình. Đoàn rước được bố trí như sau: Đi đầu là đội bát âm gồm 5 người cùng cờ, trống và cổ kiệu long đình đặt trên choé sứ để rước nước, sau kiệu long đình là các vãi già tụng kinh, hàng bát bửu gỗ. Kiệu rước thứ hai rước các lễ vật gồm hương hoa oản quả, đi tiếp theo đoàn là hàng bát bửu có gươm. Đi giữa là ban tế của làng và đi theo có thầy cúng để cúng. Đoàn rước đi theo đường trục chính của làng, đến giếng giữa đồng chủ tế vào làm lễ, sau khi làm lễ xong, ông chủ tế bơi thuyền ra giữa giếng để múc nước vào choé sứ đặt lên kiệu. Thứ tự đoàn rước lúc về vẫn như lúc đi. Khi về đến sân đình thì hạ kiệu, trong đó kiệu có long giá được đặt ở giữa sân, kiệu rước nước đặt ở ngoài cùng. Sau đó các kiệu được rước vào cung để chuẩn bị tế lễ, kiệu rước nước tiếp tục được dùng đi rước văn ở nhà ông chánh hoặc ông phó lý dịch (người được làng chọn tả văn năm đó), văn tế có nội dung cầu mong thành hoàng phù hộ cho nhân dân, cầu chúc cho quốc thái dân an. Đi cùng với kiệu rước văn là 4 giai kiệu, một cụ đánh trống khẩu và một cụ đại diện ban tế đi nhận văn. Khi rước về văn tế được để ở gian bên tả Đại bái đình. Khi tế văn sẽ có người chuyển chúc văn đưa văn tế sang gian giữa cho cụ chủ tế đọc văn. Khi tế xong, người chuyển chúc văn đưa văn tế qua gian bên hữu Đại bái đình rồi chuyển ra ngoài sân để hóa. Tham gia đoàn khênh kiệu nước là các nam thanh niên do các giáp cắt cử và tuyển chọn. Giai kiệu mặc áo the đen, quần trúc bâu trắng, đầu đội khăn xếp, thất lưng nhiều đỏ. Các thành viên đoàn chiêng, trống, cà, quạt, tàn, lọng đều mặc quần áo nậu có thất lưng, áo nhiễu điều và quần trắng có đai lưng đỏ và đồng loạt với tiêu chuẩn là chưa lập gia đình. Đi cùng với đoàn rước kiệu còn có đội múa rồng và sư tử múa vòng lên xuống theo đoàn đi (lên bên hữu, xuống bên tả) do dân tự tổ chức. Đội rước kiệu đi từ đình đến đền, hôm rước chính sẽ có một tổng cờ đi trước dẹp đường, tiếp là 10 nữ tay cầm bát bửu, 2 người vác tàn, lọng, 2 thanh đồng cầm gươm đi hầu. Sau đó chủ tế sẽ điều khiển đoàn ước với trống khẩu làm hiệu lệnh đi hay dừng. Tiếp sau là kiệu long đình do 4 thanh niên khiêng, sau là đội bát âm, ban tế và cuối cùng là đội múa sinh tiền, một đĩ đánh bồng, đội sư tử và nhân dân đi sau hộ tống.
Lễ vật dâng lên đức Thành hoàng trong ngày mùng 6/2 do 2 phe giáp chuẩn bị, trong đó có lẽ ở đình và lẽ ở đền. Công việc chuẩn bị lễ vật được các giáp lo từ năm trước. Gia đình nào được chọn là cai đám của giáp năm đó sẽ được giao cho một số ruộng công nhất định. Lễ vật là lễ chay gồm xôi, oản, hoa quả.. làng có quy định sẽ cân gạo đồ xôi với cái cân bằng gỗ lim và sẽ cân đủ số gạo theo quy định và chọn chuối phải to và đến ngày giã đám sẽ chia lễ vật cho các giáp cùng hưởng.
Làng có đội tế riêng gồm 13 thành viên của các giáp trong làng đảm nhiệm gồm có: 1 chủ tế, 2 đông xướng tây xướng, 2 chấp đăng, 4 đun đài, 2 tả văn hữu văn. Đây là những người khoẻ mạnh, tuổi từ 50 trở lên, gia đình song toàn, con cháu đầy đủ, hạnh phúc. Riêng chủ tế phải là người cao tuổi, đức cao vọng trọng được mọi người tín nhiệm và có sức khoẻ tốt. Từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 mỗi ngày có một tuần tế, hôm đầu tuỳ theo thời gian rước kiệu sớm hay muộn mà tế buổi sáng hay buổi chiều. Thời gian mỗi buổi tế khoảng 2h và qua 3 tuần tế, trong đó ba tuần tế chính là rượu - hoa trà hoặc hoa hồng và trà (nước). Trong lúc tế, lúc dâng rượu, đốt văn tế đều có cử nhạc với trống chiêng rộn ràng. Tế xong, dân làng theo thứ tự vào đình lễ thần.
Trang phục ban tế với áo the trơn đồng loạt, mũ và hia khác với ông chủ tế. Riêng ông chủ tế áo the thụng có bối tử trước ngực và sau lưng, mũ nhung có thêu kim tuyến, chân đi giày nhung.
Ngày mùng 5, trước khi tế chính làng có làm lễ mộc dục, bao sái tượng thánh. Lễ này do cụ từ và cụ chủ tế tiến hành. Nước được pha với ngũ vị, trầm, rượu để nguội. Khăn để làm lễ là khăn hồng nhiễu mới do làng sắm về.
Sau lê mộc dục số khăn này được các gia đình xin lộc thánh mang về với mong muốn đức thánh linh thiêng sẽ phù hộ cho con cháu họ mạnh khoe, hay ăn chóng lớn, học hành giỏi giang. Nếu thừa khăn chưa dùng đến thì làng làm lễ thánh xong sẽ chia số khăn đó cho các cụ trong ban khánh tiết đình, coi đó như là lộc của thần ban cho.
Ngày mùng 7 làng rước long giá hoàn cung, sau đó làm lễ tạ và đồng cửa đình - đền.
Làng có kết nghĩa với thôn Yên phú, xã Liên Minh, huyện Thanh Trì.
Còn lại ba thôn trong xã từ xưa vẫn thờ chung một thành hoàng nên trong lễ hội có sự giao hảo giữa các thôn.
Trong các ngày hội làng, khi ở đình lễ tế thành hoàng làng diễn ra trang trọng thì ở chùa các vãi cũng thành tâm dâng hương lên đức Phật và tấp nập têm trầu, pha nước mời khách, chia lộc cho các thiện nam tín nữ. Trên sân chùa, sân đình và các địa điểm xung quanh, các trò diễn dân gian được tổ chức rất sôi nổi, hào hứng như: múa sư tử với vật, bơi thuyền hát trống quân với bên nam bên nữ hát đối nhau, bắt vịt ao đình, đốt cây bông, pháo bông, đánh cờ bỏi, đánh roi, hát chèo, hát chầu văn.
Các ngày tuần tiết, ngày tết trong năm như: lễ thượng điền và hạ điền, lễ cơm mới, lễ trồng hạ nêu, tết Nguyên đán, tết Đoan ngọ, tết Trùng thập cũng có lễ ở đình - đền làng. Riêng ngày mùng 10/5 cả làng cử 3 cụ gánh 2 đọt mạ, một vài dảnh khoai nước đến ruộng đã quy định để làm lễ cấy. Ngày hôm sau các gia đình trong làng mới được cấy
Lễ hội làng truyền thống có ý nghĩa thiêng liêng, là một sinh hoạt văn hoá tâm linh cần thiết. Nó cũng là hình thức liên kết cộng đồng, vui chơi giải trí sau những ngày làm ăn vất vả khó nhọc, chuyển giao các hình thức sinh hoạt văn hoa và khích lệ óc sáng tạo thẩm mỹ. Lễ hội đang được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu của thời đại, tuy nhiên chúng ta cần phải cân nhắc đổi mới những gì và đổi mới như thế nào để có thể bảo tồn bản sắc văn hoá dân.



