Đình Thúy Lĩnh
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu

Thúy Lĩnh là vùng đất cổ trọng yếu nằm án ngữ đường thủy phía nam kinh thành Thăng Long xưa, nay thuộc phường Lĩnh Nam, thành phố Hà Nội, nằm ven bờ sông Hồng mang nặng phù sa, có đường đê dài cùng hệ thống giao thông thủy bộ nối liền với thành phố tạo nên địa thế cảnh quan khá đẹp. Đi trên đê Hữu Hồng, người ta có thể chiêm ngưỡng được toàn cảnh “sông nước hữu tình” của làng cổ Thúy Lĩnh vùng đất bãi ngoài đê màu mỡ trù phú có bề dày lịch sử được con người đến khai phá sinh cơ lập nghiệp từ sớm[1]. Thúy Lĩnh có tên cổ là Thúy Ái Châu, Thúy Ái. Văn hóa cư dân mang đặc trưng của nông nghiệp lúa nước. Địa giới làng Thúy Lĩnh từ xưa đến nay không mấy thay đổi, vẫn nằm trọn ngoài bờ bãi đê sông Hồng và tiếp giáp những làng xã cổ Đông Dư, Thổ Khối, Bát Tràng, Kim Quan[2], Nam Dư, Thanh Trì. Thúy Ái trở thành một làng quê trên bến dưới thuyền tấp nập kết nối kinh tế, giao lưu văn hóa với các vùng quê lân cận. Cái tên Thúy Ái Châu đã khái quát đặc trưng của thiên nhiên và đời sống sản xuất nông nghiệp của cư dân một làng xã nằm trọn ngoài bờ bãi sông Hồng tạo nên một màu xanh bạt ngàn, đẹp mắt. “Thúy Ái” nghĩa là màu xanh đáng yêu. Chữ “Châu” trong tiếng Hán 州 là kiểu chữ tượng hình mô phỏng một dòng sông (bộ Xuyên 巛) với các hòn đảo ở giữa. Bởi thế, chữ Châu 州 có nghĩa ban đầu là cồn đất nổi lên giữa dòng nước, là bãi cù lao. Sau này cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX, làng đổi tên thành Thúy Lĩnh (翠嶺) nghĩa là núi xanh. Sở dĩ gọi tên như vậy vì địa thế vùng bãi rộng mênh mông giữa vùng sông nước này quanh năm nổi lên một màu xanh tươi của các loại cây, điệp trùng như những ngọn núi. Thăng Long - Hà Nội là vùng đất kinh kỳ, là nơi hội tụ những nét đẹp tinh hoa của dân tộc. Đây còn là vùng đất cổ, mang nhiều dấu ấn tín ngưỡng của các thời kỳ lịch sử, thể hiện trong tâm thức cũng như tục lệ thờ cúng trong dân gian. Một trong những vị thần thuộc “Tứ trấn” Thăng Long, chuyên bảo hộ và có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi người dân vùng đất kinh kỳ phải kể đến là Đức Thánh Linh Lang. Theo cách phân loại các vị thần thì Linh Lang Đại Vương là vị thần chiến đấu[3]. Các quả cầu dùng trong lễ hội Việc thờ Thánh Linh Lang bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Thủy thần 1 Không chỉ vậy, nếu đi sâu bóc tách các lớp văn hóa thì theo nhiều nhà nghiên cứu, việc thờ Thánh Linh Lang thực chất bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Thủy thần của người Việt cổ, một nét văn hoá đặc trưng của cư dân trồng lúa nước. Thực chất Linh Lang và sự thờ phụng Đức Linh Lang là một dạng thờ thần linh nguyên thủy bản địa của người Việt, sau được lịch sử hóa, nhân thần hóa, nhân vật hóa và thờ với tư cách là Thành hoàng làng có công chiến đấu. Phát tích, Linh Lang có nguồn gốc thủy thần, cụ thể là thần rắn ở phạm vi vùng sông nước[4]. Người dân Thúy Lĩnh bao đời bền bỉ dẻo dai bám đất bám làng, cần cù lao động xây dựng cuộc sống vật chất ấm no đầy đủ, đồng thời duy trì được những thuần phong mỹ tục tốt đẹp. Linh Lang Đại Vương được nhân dân làng cổ Thúy Lĩnh tôn thờ là Thành hoàng làng được phụng tại đình. Nằm bên bờ hữu ngạn sông Hồng, ngôi đình toạ lạc trên một khu đất cao ráo giữa làng. Hiện vật trong Đình còn giữ được khá phong phú, gồm một cuốn ngọc phả, 06 sắc phong, trong đó sắc phong sớm nhất đề niên hiệu năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782), một quả chuông đồng đề niên hiệu năm Tự Đức thứ 35 (1882), một số hoành phi, câu đối, cỗ kiệu, các ngai thờ và các đồ thờ có giá trị... Đôi câu đối chữ Hán trên trụ chính nghi môn nhìn từ ngoài đường vào sân đình ca ngợi quê hương Thúy Lĩnh Trụ chính giữa ở bên phải: 柱表江山明君明臣明民明世事 (Phiên âm: Trụ biểu giang sơn minh quân minh thần minh dân minh thế sự) Dịch nghĩa: Cột mốc (cột biểu trưng) định rõ giang sơn với vua sáng, tôi hiền, dân minh triết và việc đời trong sáng. Trụ chính giữa ở bên trái: 榮光領土翠村翠木翠水翠人心 (Phiên âm: Vinh quang lãnh thổ thúy thôn thúy mộc thúy thủy thúy nhân tâm) Dịch nghĩa: Vinh quang thay đất đai bờ cõi, xóm làng xanh tươi, cây cỏ xanh tươi, nước biếc xanh tươi và lòng người cũng chan hòa, rạng rỡ một màu xuân sắc, nghĩa tình. Xét về mặt ngôn ngữ, nghệ thuật chơi chữ tài tình khi “giang sơn” đối với “lãnh thổ” đã phản ánh thực tế làng vốn được coi là đất nước thu nhỏ. Nơi đây có đầy đủ thiết chế xã hội riêng biệt hội như hương ước, bộ máy quản lý, có thu thuế, có địa giới, dân cư, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá xã hội. Trong chỉnh thể ấy, ngôi đình làng chính là hình ảnh phản chiếu một triều đình thu nhỏ. Dân có giàu nước mới mạnh. Người dân Việt Nam từ bao đời vẫn gọi là “làng - nước”. Việc thờ phụng Thành Hoàng làng còn hiểu sâu xa hơn là nói đến vương quyền triều đình, chính trị, lễ nghi phép tắc chứ không đơn thuần chỉ là một vị Thần Linh của địa phương. Tương tự như thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo ở nước ta trong lịch sử, ngôi chùa thờ Phật không chỉ là nơi gửi gắm tâm linh mà còn mang ý nghĩa tôn vinh những giá trị cai quản đời sống tinh thần của cư dân. Đức Phật vốn được tôn vinh là Pháp Vương - vị vua của muôn pháp. Ở góc độ quản lý xã hội, “Pháp” còn được hiểu theo nghĩa hẹp là pháp luật và phép tắc. Chính vì vậy, các làng xã xưa dù được lập nên sớm hay muộn đều coi việc xây dựng đình chùa là điều kiện đầu tiên để khẳng định vị 2 thế của cộng đồng, đồng thời ổn định đời sống cư dân và trật tự xã hội của địa phương. Thành hoàng làng được thờ trong đình Thúy Lĩnh là Đức Linh Lang Đại Vương (Đức Thánh Cả). Theo bản Ngọc Phả lưu lại cho hay Linh Lang Đại Vương sinh ngày 13 tháng chạp năm thứ 6 niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh đời vua Lý Thánh Tông Lý Thánh Tông (1054-1072). Chàng chính là hiện thân của Hoàng tử Hoằng Chân[5], con trai thứ 4 của vua Lý Thánh Tông và cung phi Nguyễn Hạo Nương[6] ở Bồng Lai, hương Từ Liêm. Từ nhỏ Hoàng tử đã am hiểu binh thư chiến trận, theo vua cha đánh giặc lập nhiều chiến công lớn trong cuộc phá Tống bình Chiêm. Khi Ngài ra trận thường có đội voi chiến đi theo, mỗi khi ra lệnh, đoàn voi đều quỳ xuống nghe lời. Khi Ngài hóa, được nhân dân 269 làng lập đền thờ và tôn vinh là Linh Lang Đại Vương. Đền chính thờ ngài ở làng Thủ Lệ và Bồng Lai. Đền Thủ Lệ đắp hai ông voi quỳ ở cửa, nhân dân gọi là đền voi phục tưởng nhớ đến tài chỉ huy voi chiến của Ngài. Ấp Thúy Ái cũng là nơi lập đền thờ, xây dựng vào khoảng năm 1497 1504. Ngôi đền này về sau trở thành đình làng Thúy Lĩnh tới nay đã được gần 600 năm[7]. Để tưởng nhớ công lao hộ quốc của Ngài, nhân dân Thúy Lĩnh gìn giữ ngôi đình và quanh năm hương khói phụng thờ Đức Thánh Linh Lang Đại Vương. Đình Thúy Lĩnh Ngài đã có công lao to lớn khu trừ giặc Tống như đôi câu đối ở trước cửa tiền đình đã ghi: 力散李朝功第一 (Phiên âm: Lực tán Lý triều công đệ nhất) - Dốc sức phò giúp nhà Lý, công lao bậc nhất. 驅除宋賊是無雙 (Phiên âm: Khu trừ Tống tặc thị vô song) - Quét sạch giặc Tống, tài năng và sự nghiệp là vô song Để ghi danh công lao to lớn hộ quốc của Hoàng tử Hoàng Chân, vua đã phong Thánh hiệu: 靈郎大王 - 上等福神 (Linh Lang Đại Vương - Thượng đẳng phúc thần) Ở tiền đình có đôi câu đối: 生爲將化爲神威武南邦第一 (Phiên âm: Sinh vi tướng hóa vi thần uy vũ Nam Bang đệ nhất) - Sống làm tướng, hóa thành Thần, uy danh và võ công đứng đầu nước Nam. 功在朝名在史流傳北海無雙 (Phiên âm: Công tại triều danh tại sử lưu truyền Bắc hải vô song) - Công lao để lại nơi triều đình, tên tuổi ghi rõ trong sử sách, danh tiếng lưu truyền khắp vùng biển Bắc không ai sánh bằng. 3 Đây là đôi câu đối thường dùng để ca ngợi, tôn vinh công đức và uy danh kiệt xuất của các vị đại tướng, anh hùng dân tộc vĩ đại trong lịch sử Việt Nam đương thời đánh giặc cứu nước hiển hách, khi mất đi trở thành bậc Thần Linh bảo vệ xóm làng, tiếng thơm và công lao còn lưu danh vĩnh viễn muôn đời. Nếu Đức Thánh Linh Lang tượng trưng cho thần sông nước, thì Ngài Bạch Hổ (Đức Thánh Hai) tượng trưng cho thần núi non. Gian hậu cung đình có thêm ban Thanh Long đối với ban Ngài Bạch Hổ theo phong thủy Á Đông “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” phổ biến như cổng đền Ngọc Sơn, đền Quan Đế số 28 Hàng Buồm[8]... Hậu cung đình Thúy Lĩnh Ban đầu, khi có chùa Diên Khánh, trong khuôn viên chùa có ngôi miếu Bản thờ Bạch Hổ Đại Vương[9] - là một trợ thủ đắc lực của Linh Lang Đại Vương. Trải qua nhiều năm tháng bị gió mưa, bị thiên nhiên phong hóa, ngôi miếu bị đổ nên ngai thờ và đồ thờ Ngài Bạch Hổ đã được nhân dân rước về thờ ở đình Thúy Lĩnh. Năm 2010, nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nhà nước đã tiến hành trùng tu Di tích cấp quốc gia đình Thúy Lĩnh, đồng thời thực hiện một số điều chỉnh trong việc bài trí thờ tự tại đây. Vốn dĩ, Linh Lang Đại Vương là vị Phúc đức Chính thần duy nhất được sắc phong làm Thành hoàng làng. Tuy nhiên, theo quan niệm văn hóa Á Đông, số lượng ban thờ phải tuân theo số lẻ (một hoặc ba vị). Do đó, tại tòa hậu cung, Ban thờ Đức Thánh Linh Lang được tôn trí ở gian giữa trung tâm, kết hợp phối thờ Ngài Thanh Long[10] ở gian bên phải và Ngài Bạch Hổ ở gian bên trái (nhìn từ ngoài vào) làm vị thần phù trợ. Thần Thanh Long cũng là vị thần sông nước, hóa thân của Đức Thánh Linh Lang. Linh Lang Đại Vương là con của Long Cung, vâng lệnh Hoàng Thiên đầu thai làm con của Hoàng gia để giúp nước trừ giặc loạn. Sau khi bốn biển thanh bình, ngài lại trở về Thủy quốc[11]. Khi xưa, Đức Vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La nhờ tầm nhìn xa trông rộng, sớm nhận ra thế đất linh thiêng và trọng yếu của nơi này: “ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; đã đúng ngôi nam, bắc, đông, tây, lại tiện hướng nhìn sông, dựa núi; địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa; thật là nơi tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là chốn kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Sau khi dời đô, Đức Vua Lý Thái Tổ đã đổi tên thành Đại La thành Thăng Long, khai sinh một kinh đô kinh kỳ - tiền thân của thủ đô Hà Nội ngày nay - với khát vọng non sông sẽ luôn phồn thịnh và cất cánh như thế rồng bay lên. Như vậy, nhân dịp trùng tu đình Thúy Lĩnh hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, việc phối thờ Đức Thánh Linh Lang (Hoàng tử nhà Lý - Thành hoàng làng) cùng tả 4 Thanh Long, hữu Bạch Hổ tại ngôi đình đã được các chuyên gia văn hóa khảo cứu một cách thấu đáo dựa trên cơ sở khoa học. Rồng chầu Hổ phục là thế đất phong thủy quý hiếm tượng trưng cho uy quyền tối thượng, nơi hội tụ linh khí đất trời để sinh ra bậc đế vương ngự trị trên vùng đất này được cho là thuận theo thiên mệnh, có đủ uy quyền thu phục quần thần, giang sơn bền vững, quốc thái dân an. Làng cổ Thúy Lĩnh như một hình bóng quốc gia thu nhỏ, nơi hội tụ trọn vẹn giang sơn đất nước. Sự giao hòa độc đáo này được phản ánh ngay qua những danh xưng lịch sử: khi thì là Thúy Ái Châu gợi bóng dáng vùng châu thổ bãi bồi ven sông, khi lại là Thúy Lĩnh mang tầm vóc của những ngọn núi xanh vững chãi. Khác với phần lớn các làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ vốn chỉ sử dụng chuông và trống trong nghi thức tế lễ, ngôi làng ven sông này lại ngân vang cả tiếng "chiêng" - nhạc cụ đặc trưng của đại ngàn núi non. Không chỉ vậy, nét bề thế của văn hóa núi rừng còn hiện hữu ngay tại cổng đình qua hình ảnh hai ông Voi chầu, được phục dựng theo nguyên mẫu tại đền Voi Phục Thủ Lệ lẫy lừng[12]. Trò chơi lội ao bắt vịt không chỉ tôn vinh một sản vật đặc trưng của vùng sông nước, mà thực chất còn tái hiện sinh động thuở khai hoang lập ấp từ thời cổ đại cũng như những cuộc chiến đấu anh dũng chống giặc ngoại xâm của cha ông. Lễ hội bắt vịt truyền thống tại làng cổ Thúy Lĩnh (phường Lĩnh Nam, Hà Nội) là một nét đẹp văn hóa dân gian độc đáo có lịch sử lâu đời, gắn liền với tiến trình phát triển của vùng đất Kinh kỳ. Nguồn gốc của lễ hội kết tinh từ thuở cha ông ta khai hoang bờ bãi, lập xóm định cư ven sông Hồng và gắn liền với các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Xuất phát từ thực tế vịt là sản vật trân quý của vùng sông nước, hội bắt vịt ban đầu được tổ chức như một hình thức sinh hoạt nhằm rèn luyện sự dẻo dai, nhanh nhẹn cho quân sĩ và nhân dân dưới sự dẫn dắt của Linh Lang Đại Vương – vị Phúc đức Chính thần, Thành hoàng làng Thúy Lĩnh. Trải qua bao thăng trầm, đặc biệt sau đợt đại trùng tu đình Thúy Lĩnh dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, lễ hội càng được đầu tư tổ chức quy mô và bài bản dựa trên các cơ sở khảo cứu khoa học. Hằng năm, sau các nghi lễ trang nghiêm tại đình làng - nơi tôn kính thờ phụng Đức Thánh Linh Lang cùng tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ - phần hội rực rỡ lại được mở ra đầy náo nhiệt. Dưới làn nước mát của hồ thủy đình, các thanh niên trai tráng khỏe mạnh sẽ cùng nhau tranh tài trong tiếng reo hò, trống giục vang dội để rượt đuổi, bắt những chú vịt bơi lội. Không chỉ đơn thuần là trò chơi giải trí, tục lệ này là tấm gương phản chiếu sinh động lịch sử lao động kiên cường của cư dân bãi bồi sông nước. Ngày nay, hội bắt vịt vẫn giữ nguyên giá trị cốt lõi, là dịp để người dân sum họp, thắt chặt tình làng nghĩa xóm và cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no. Như đã đề cập ở trên, bến Thúy Ái có lợi thế cho nhân dân ta trong các thế trận thủy chiến với quân thù từ thời Lý, Trần, Hậu Lê, đến triều đại Tây Sơn và cả trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ sau 5 này, nhiều sự kiện trọng đại đã đi vào sử sách. Hội bắt vịt là một trong ba lễ hội chính của làng Thúy Lĩnh, đã được duy trì qua nhiều thế hệ, gắn chặt với đời sống của cư dân vùng bãi - nơi từ bao đời, chuyện quen con nước, biết bơi lội là điều cần thiết để thích nghi với những mùa nước lên, mùa mưa lũ. “Hội” thường liên quan chặt chẽ đến “Lễ” Các làng xã ven sông Hồng có lịch sử vài trăm năm thường có hai dịp tế Thành Hoàng rất long trọng vào dịp xuân thu nhị kỳ là Xuân tế và Thu tế. Người dân địa phương và khách thập phương ngoài tham gia các nghi thức tế lễ Thành Hoàng làng mang tính tâm linh cầu quốc thái dân an mưa hòa gió thuận, mùa màng bội thu còn tham gia các trò chơi dân gian đặc sắc. Tại Thúy Lĩnh, nếu như Hội vật cầu gắn với dịp Xuân tế đầu năm mới thì mùa thu gần dịp lễ Trung thu có Hội bắt vịt. Hai trò chơi dân gian đó xưa là một trong những hình thức để Ngài Linh Lang Đại vương rèn luyện quân sĩ, khích lệ tinh thần thượng võ dân tộc, đồng thời lưu giữ một nét độc đáo trong bức tranh văn hóa đa sắc màu đất Thủ đô nghìn năm văn hiến. Nếu như trong Hội vật cầu, thanh niên trai tráng tham gia rèn luyện sức khỏe trên đất liền thì Hội bắt vịt lại đòi hỏi những người tham gia cần bền bỉ dẻo dai trên vùng sông nước. Tương truyền Lễ hội vật cầu có nguồn gốc từ thời Lý, có liên quan mật thiết đến vị Thành Hoàng làng Thúy Lĩnh là Linh Lang Đại vương và Bạch Hổ tướng quân. Linh Lang Đại Vương cùng Bạch Hổ Tướng Quân trong quá trình luyện binh đánh giặc, thường xuyên đưa ra nhiều hình thức thể thao khác nhau để rèn luyện quân lính. Mỗi dịp Tết đến, Xuân về, Ngài linh Lang thường tổ chức lễ hội vật cầu để quân sĩ vui chơi, môn vật cầu đó được binh sĩ ưa thích nhất vì là môn thể thao không chỉ rèn luyện cơ thể cho binh lính có sức khỏe mà nó còn tạo cho người lính có ý thức chiến thuật, tinh thần đồng đội, tạo đam mê phấn khởi, ý chí quyết tâm cho người lính, khi ra trận có thể thích ứng với mọi điều kiện hoàn cảnh của chiến trường. Trong tổng Thanh Trì xưa còn lưu truyền câu “Trai Thúy Ái, gái Thanh Trì” - trai làng Thúy Lĩnh thì hùng dũng, còn gái làng Thanh Trì đảm đang. Hội xuân lưu giữ nét ngàn năm Thượng võ tinh thần, dạ sắc son Vật cầu Thúy Lĩnh còn vang mãi Hồn thiêng sông núi mãi vuông tròn. Chính vì vậy, lễ hội vật cầu tại làng cổ Thúy Lĩnh mang trọn vẹn tầm vóc của một "quốc gia thu nhỏ", nơi kết tinh tinh thần thượng võ chống ngoại xâm để bảo vệ giang sơn. Hội vật cầu Thúy Lĩnh Bản sắc ấy được đúc kết qua bao đời nay, khi cư dân nơi đây phải trải qua biết bao nhọc nhằn để vừa chế ngự thiên nhiên dữ dội, vừa kiên cường đấu tranh giữ đất, từ đó bồi đắp gây dựng lên những xóm làng bên dải phù sa trù phú. Vật cầu là di sản văn hóa dân gian phi vật thể cần được bảo tồn và tôn 6 vinh lên tầm cỡ di sản phi vật thể cấp quốc gia. Hằng năm, hội vật cầu truyền thống thường được khai mạc từ ngày mùng 4 và kéo dài đến hết mùng 6 Tết Nguyên đán. Nhân dịp trùng tu đình Thúy Lĩnh hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, không gian di tích đã được tô điểm bằng hai bức tranh gốm sứ Bát Tràng tráng lệ, tái hiện sinh động hai lễ hội dân gian trứ danh tại địa phương là vật cầu và bắt vịt. Cùng với phần sân đình được lát gạch Bát Tràng đồng bộ, công trình đã trở thành một kiệt tác kiến trúc, đóng góp một nét son vào kho tàng di sản nghệ thuật xây dựng của dân tộc.
Tại Thúy Lĩnh từ khi lập làng, người dân đã phát triển nghề trồng lúa nước và trồng dâu chăn tằm tại bờ bãi góp phần vào nền văn minh sông Hồng, văn hiến Thăng Long - Hà Nội huy hoàng. Với lợi thế nằm ven sông Hồng cận kề kinh thành Thăng Long, vùng đất Thúy Ái đã từng sở hữu thương cảng sầm uất "trên bến dưới thuyền", đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối kinh tế giữa các vùng miền. Kết quả khảo cổ học phát hiện tiền đồng Khai Nguyên Thông Bảo thời Đường (thế kỷ VIII), tiền Chí Hòa Nguyên Bảo thời Tống (thế kỷ XI), cùng dấu tích đường lát gạch cổ và nhiều hiện vật khác là những minh chứng quan trọng khẳng định Thúy Ái là một làng Việt cổ có lịch sử lâu đời trong tiến trình phát triển của vùng đất Thăng Long - Hà Nội, là cầu nối kết nối kinh tế, truyền bá văn hóa, tôn giáo và tri thức trong nước và quốc tế. Sự hiện diện của chất liệu gốm sứ hoa lệ trang trí tại đình chùa Thúy Lĩnh còn gợi nhắc về một thế đối sánh văn hóa độc đáo trên trục văn minh sông Hồng: nếu bên Tả ngạn có làng gốm Bát Tràng lừng danh, thì phía Hữu Hồng lại có làng cổ Thúy Ái với nghề trồng dâu chăn tằm hưng thịnh một thời. Làng Thúy Lĩnh, phường Lĩnh Nam, Hà Nội là vùng đất cổ ven sông Hồng, nơi lưu giữ hai biểu tượng di sản văn hóa sâu sắc là Lễ hội vật cầu truyền thống và nghề trồng dâu nuôi tằm. Biểu tượng nổi bật của tinh thần thượng võ nơi đây chính là quả cầu gỗ mít, một khối gỗ tròn nặng hơn 20kg được đục đẽo từ gốc mít cổ thụ. Trò chơi vật cầu tại Đình Thúy Lĩnh mô phỏng lại cách luyện quân của Hoàng tử Linh Lang thời Lý, thể hiện ước vọng cầu cho mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt. Song hành với biểu tượng hào hùng ấy là hình ảnh lá dâu, con tằm gắn liền với nghề canh nông lâu đời trên dải đất bãi bồi sông Hồng phù sa màu mỡ. Công ơn gìn giữ và phát triển nghề dệt tằm tang này được nhân dân ghi nhớ qua hình tượng các "Bà Chúa" có công khai hoang, chăm lo đời sống dân sinh. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Đình Chùa Thúy Lĩnh đã được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1993, trở thành niềm tự hào lớn của người dân Thủ đô. Lễ hội vật cầu và sắc xanh của nương dâu, vườn ruộng không chỉ là nét đẹp văn hóa phi vật thể đặc trưng, mà còn là linh hồn cốt lõi gắn kết cộng đồng nơi đất kinh kỳ Thăng Long. Ngày nay, những biểu tượng văn hóa này vẫn luôn được các thế hệ người dân Thúy Lĩnh trân trọng, gìn giữ và lưu truyền như một mạch nguồn cội nguồn bất tận. Làng Thúy Lĩnh sẽ mãi" bạt ngàn một màu xanh" của thiên nhiên và cảnh quan nông nghiệp. Màu xanh tràn đầy sức sống ấy cũng góp phần cho màu xanh chung của giang sơn gấm vóc được sinh sôi phát triển bền vững cho các thế hệ tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Đảng ủy - HĐND - UBND xã Lĩnh Nam (2000). Lịch sử truyền thống xã Lĩnh Nam. NXB Văn hóa Dân tộc.
[2] Đến cuối thế kỷ XIX, làng Kim Quan được đổi tên thành Kim Lan.
[3] Nguyễn Vinh Phúc và Nguyễn Duy Hinh (2009). Các Thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội. NXB Lao Động
[4] UBND tỉnh Hà Tĩnh. Những điều ít biết về Đức thánh Linh Lang của “Tứ trấn” Thăng Long xưa. Truy cập ngày 11.09.2026 tại https://dhtn.hatinh.gov.vn.
[5] Nhân dân Thúy Lĩnh kiêng húy, gọi “khoai lang” là “khoai dây”, “chân” gọi là “cẳng”.
[6] Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội (2010), đình Thúy Lĩnh được trùng tu, dân làng Thúy Lĩnh lên Bồng Lai lễ và xin dị hiệu Thánh Mẫu rước về lập ban thờ bên phải đình trung để phụng thờ.
[7] UBND phường Lĩnh Nam (2026). Báo cáo số: 345/BC-UBND Rà soát, đánh giá hiện trạng và đề xuất phương án bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, ngày 13 tháng 7 năm 2026.
[8] https://redsvn.net/chum-anh-den-quan-de-ngoi-den-tho-quan-vu-giua-pho-co-ha-noi/
[9]Chùa xưa được xây dựng từ thời vua Lê Thần Tông 1619 - 1643 niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 3 (1622). Nhân dân Thúy Lĩnh kiêng húy, gọi “hổ” là “hể”.
[10] Ngài được nhân dân rước từ miếu Nghè về đình.
[11] Đinh Khắc Thuân (2011). Bản dịch Ngọc phả về Hoàng tử Linh Lang Đại Vương triều Lý. Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
[12] Với người miền núi tế lễ và các nghi thức quan trọng thì lại phổ biến dùng cồng chiêng.



