ĐÌNH THỤY LÔI ( ĐÌNH NHỘI)
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
ĐÌNH THỤY LÔI
ĐÌNH THỤY LÔI
Đình Thụy Lôi, còn được gọi là đình Nhội theo tên nôm của làng, hiện tọa lạc tại thôn Thụy Lôi 1, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Đây là một di tích có lịch sử lâu đời, gắn bó mật thiết với Đền Sái, Đền Thượng và Đền thờ Tiến sĩ Lê Tuấn Mậu, tạo thành một quần thể di tích mang nhiều giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và kiến trúc nghệ thuật. Cụm di tích Đền Sái - Đình Thụy Lôi - Đền thờ Tiến sĩ Lê Tuấn Mậu được xếp hạng di tích Quốc gia tại Quyết định số 15 VH/QĐ/1986 ngày 27/01/1986.
Thụy Lôi hay làng Nhội, Kẻ Nhội, trước đây có tên gọi Ma Lôi, sau đổi thành Xuân Lôi và cuối cùng là Thụy Lôi. Đây là một làng cổ có lịch sử lâu đời. Trước kia, Thụy Lôi thuộc tổng Phương La, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đầu thế kỷ XX, Xuân Lôi tách khỏi tổng Phương La để lập tổng Thư Lâm, huyện Đông Ngàn. Sau năm 1945, ba làng của tổng Thư Lâm là Thụy Lôi, Thư Lâm và Đào Thục hợp nhất thành xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Năm 1946, Thụy Lâm và Thư Lâm hợp nhất thành xã Đức Hợp; đến năm 1949, xã Đức Hợp thêm làng Đào Thục lập thành xã Tiến Bộ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Từ năm 1961, huyện Đông Anh nhập về Hà Nội. Năm 1964, xã Tiến Bộ được đổi tên thành xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Hiện nay, theo địa giới hành chính mới, di tích Đình Thụy Lôi thuộc thôn Thụy Lôi 1, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội.
Vùng đất Thụy Lôi từ lâu gắn với nhiều huyền thoại, truyền tích và sự kiện lịch sử trong quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc. Nằm về phía Đông Bắc kinh đô Cổ Loa và kinh thành Thăng Long, vùng đất này xưa thuộc không gian “Thất Diệu Sơn”, có núi Sái gắn với sự tích xây thành Cổ Loa thời An Dương Vương; đồng thời lưu giữ những dấu tích, truyền thuyết liên quan đến Thánh Gióng. Với vị trí có sông Cà Lồ chảy qua và nằm trên trục đường từ Như Nguyệt về Thăng Long, nơi đây từng góp phần vào những sự kiện trong các cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ XI, chống quân Nguyên Mông thế kỷ XIII và các cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước.
Trong cuộc kháng chiến chống Tống, làng Nhội có vị trí quan trọng trong chiến tuyến sông Cầu. Trong dân gian còn lưu truyền câu ca:
“Đánh giặc thì đánh qua sông,
Đừng đánh qua đồng nát lúa người ta.
Đánh giặc thì đánh qua Xà,
Đừng đánh qua Nhội nát nhà kẻ Dâm”.
Đây cũng là vùng đất nổi tiếng về truyền thống khoa bảng. Chính tên gọi Thư Lâm - “rừng chữ” - phần nào thể hiện truyền thống hiếu học và khoa cử của vùng quê này. Trong suốt thời Lê, từ đời Lê Thánh Tông đến đời Lê Hiển Tông, địa phương có nhiều người đỗ đạt, làm quan và góp phần làm rạng danh quê hương. Tiêu biểu có Nguyễn Thạch Trụ, Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu năm 1469, làm tới chức Lại bộ Tả thị lang; Lê Trinh Chấp, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất năm 1478; Lê Tuấn Mậu, người thôn Thụy Lôi, đỗ Hoàng giáp khoa Canh Tuất năm 1490, làm quan tới Hộ bộ Thượng thư kiêm Đô ngự sử và từng đi sứ nhà Minh; Nguyễn Khắc Kiệm, Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi năm 1499; Ngọ Cương Trung, Tiến sĩ khoa Tân Mùi năm 1511, làm tới chức Đô ngự sử; cùng Đào Đăng Khiêm, người được lưu truyền là ông tổ nghề rối nước truyền thống, hiện nhà thờ dòng họ còn ở thôn Đào Thục.
Đình Thụy Lôi, Đền Thượng và Đền Sái nằm trong một tổng thể di tích có quan hệ mật thiết về sự kiện, truyền tích và lễ hội. Theo truyền thuyết dân gian, Đền Sái nằm trên núi Sái, còn gọi là núi Vũ Đương hay núi Rùa Mẹ. Nơi đây gắn với sự tích An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Truyền rằng, khi Vua Thục xây thành, công trình nhiều lần bị đổ do Bạch Kê Tinh ở núi Sái quấy phá. Sau nhờ Huyền Thiên Trấn Vũ phái Thần Kim Quy đến trợ giúp tiêu diệt Bạch Kê Tinh, thành Cổ Loa mới xây dựng thành công. Để tưởng nhớ công tích đó, nhà vua cho xây đền thờ Huyền Thiên trên đỉnh núi, đổi tên làng Ma Lôi thành Xuân Lôi và hằng năm về làm lễ bái yết.
Theo truyền tích, Đình Thụy Lôi được xây dựng trên khu đất từng là hành cung của Vua Thục An Dương Vương khi nhà vua về bái yết Huyền Thiên. Vì mang tính chất là nơi hành cung giá ngự nên ban đầu đình không lập ban thờ Thành hoàng như nhiều đình làng Việt Nam khác mà thờ thần. Về sau, đình trở thành nơi thờ bốn vị thần gồm Huyền Thiên Trấn Vũ, Cao Sơn Đại Vương, Thánh Tam Giang và Đông Hải Đại Vương.
Huyền Thiên Trấn Vũ gắn với nhiều truyền thuyết về việc diệt yêu trừ ma, cứu giúp dân lành. Trong sự tích xây thành Cổ Loa, Thanh Giang sứ - Thần Kim Quy - đã giúp An Dương Vương tiêu diệt yêu quái ở núi Thất Diệu và xây thành. Thâm cảm công đức của Huyền Thiên Trấn Vũ, Vua Thục đã đến núi Vũ Đương, cấp tự điền để dân làng trông nom, thờ cúng. Hằng năm vào tiết xuân, vua cùng quân quan về đền bái yết. Về sau, để giảm hao phí cho dân, vua giao cho dân làng thay mặt thực hành nghi vệ Thiên tử, giả xưng các chức quan để thực hiện nghi lễ và trở thành lệ tục.
Cao Sơn Đại Vương là vị thần được thờ ở nhiều vùng thuộc châu thổ Bắc Bộ. Truyền thuyết về Cao Sơn Đại Vương rất phong phú. Có truyền thuyết cho rằng thần Cao Sơn là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ; những truyền thuyết khác kể Cao Sơn có tên Nguyễn Hiền, cùng người em Nguyễn Sùng - tức Quý Minh - có công giúp Sơn Tinh chống lại Thủy Tinh, bảo vệ nhà Hùng. Đầu thời Lê Trung Hưng, Cao Sơn Đại Vương được đặc biệt đề cao và được ghi lại trong nhiều tư liệu lịch sử.
Thánh Tam Giang là tên gọi gắn với hai anh em Trương Hống và Trương Hát, những vị tướng theo phò Triệu Việt Vương chống giặc Lương. Hai ông nổi tiếng trung nghĩa, được nhân dân nhiều vùng ven sông Thiên Đức, sông Nguyệt Đức và sông Nhật Đức tôn thờ. Các triều đại về sau tiếp tục ghi nhận và thờ phụng hai vị phúc thần có công giúp dân, giúp nước.
Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng theo thần tích là một nhân vật thời Lý - Trần, được nhiều địa phương lập đền thờ và được các triều đại phong tặng. Tại Thụy Lôi, Đông Hải Đại Vương cũng là một trong những vị thần được nhân dân tôn kính, thờ phụng tại đình.
Một trong những giá trị đặc biệt gắn với Đình Thụy Lôi là lễ hội truyền thống trong tổng thể Đền Sái - Đền Thượng - Đình Thụy Lôi. Lễ hội rước Vua tái hiện sự tích Vua Thục cùng Thanh Giang sứ giao thành cho quan lưu thủ, đến Đền Sái cầu Huyền Thiên và tiêu diệt Bạch Kê Tinh. Trong lễ hội có các nhân vật đóng vai Vua, Chúa, quan lưu thủ cùng các chức quan như Thị vệ, Tán lý, Đề lĩnh, Xá nhân… Các nhân vật được hóa trang, mặc trang phục, đội mũ và thực hành những nghi thức truyền thống.
Trong quá trình diễn ra lễ hội, đoàn rước thực hiện nhiều nghi lễ tại đình và các di tích trong quần thể. Vua đến gò Mô làm lễ vọng bái Huyền Thiên, sau đó Chúa được rước lên Đền Thượng, làm lễ tượng trưng cho việc tiêu diệt Bạch Kê Tinh và bái tạ Cao Sơn Đại Vương. Lễ hội có chiêng, trống, bát âm, cờ quạt, tàn tán cùng nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian. Ngoài các nghi lễ chính còn có hát cửa đình, hát tuồng và các hoạt động vui chơi như vật, chọi gà, cờ tướng…, tạo nên không khí lễ hội đông vui. Ngoài lễ hội rước Vua, Đình Thụy Lôi còn tổ chức tế lễ bốn vị thần thờ tại đình từ ngày mồng 10 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch hằng năm.
Căn cứ vào kiến trúc, phong cách nghệ thuật còn lưu giữ cùng 34 đạo sắc phong, trong đó đạo sắc sớm nhất có niên đại Phúc Thái 3 (1645), có thể xác định Đình Thụy Lôi được xây dựng ít nhất từ khoảng thế kỷ XVI-XVII. Trong quá trình tồn tại, đình được trùng tu, sửa chữa nhiều lần; từng được di chuyển vào năm Ất Dậu 1885 và năm Tân Mùi 1931 về địa điểm hiện nay. Năm 1997, phần mái và hậu cung được sửa chữa.
Đình Thụy Lôi là nơi tương truyền từng có hành cung giá ngự của Vua Thục An Dương Vương và hiện là nơi thờ phụng, tưởng nhớ những nhân vật có công với dân, với nước từ thời Hùng Vương đến các thời Lý, Trần. Nội dung thờ tự và hệ thống kiến trúc cho thấy đình thuộc loại hình di tích tôn giáo, tín ngưỡng và có giá trị lịch sử cần được bảo tồn.
Về kiến trúc, đình được xây dựng trên khu đất rộng sát khu dân cư, quay hướng Tây Bắc, có bố cục hình chữ Đinh, gồm Đại đình, ống muống, Hậu cung, hai dãy nhà tả - hữu vu và cổng tứ trụ. Cổng có bốn trụ biểu, hai trụ giữa lớn, đỉnh đắp nghê quay mặt vào nhau; hai trụ bên nhỏ hơn, đỉnh đắp đèn lồng. Sau cổng là sân đình rộng lát gạch Bát Tràng cổ.
Đại đình gồm 5 gian 2 chái, kiểu bốn mái với các đầu đao uốn cong. Hai đầu đao phía trước đắp hình rồng hướng về nóc mái, mái đình lợp ngói ta. Nền đình cao hơn sân khoảng 60cm. Kết cấu Đại đình gồm sáu bộ vì, đặt trên bốn hàng chân cột gỗ. Trước đây đình có hệ thống sàn bằng gỗ lim, sau được dỡ trong thời kỳ kháng chiến; những dấu vết của sàn đình vẫn còn lưu lại trên thân cột.
Gian giữa đình có bức cửa võng chạm khắc đẹp mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX, phía trên là hình rồng chầu mặt nguyệt, tiếp đến là các ô trang trí tứ quý, tứ linh, rồng cuốn thủy. Chính giữa có bức đại tự bốn chữ “Vạn cổ anh linh”. Hệ thống trang trí kiến trúc của đình phong phú, mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê và thời Nguyễn, thể hiện trên các bẩy, kẻ, con rường, cốn nách, đầu dư với các đề tài cúc lão, cúc hóa rồng, mây cụm, mây đùn, sóng nước, rồng, tứ linh và nhiều hình tượng dân gian khác.
Tòa ống muống có nền cao hơn Đại đình, phía trên đặt siêu đao, bát bửu. Mái làm theo kiểu chồng diêm hai tầng. Phía giáp Hậu cung có bức đại tự “Thánh cung vạn vạn tuế”. Hậu cung có hai vì gỗ, phía dưới ghép ván làm bệ thờ, trên đặt bốn long ngai, bài vị và các đồ thờ. Tại đây còn có bức đại tự “Ngự thiên tứ đức”, ý chỉ bốn vị thánh được thờ tại đình.
Hai bên sân gạch phía trước Đại đình là tả, hữu mạc; mỗi dãy ba gian hai chái, mái lợp ngói ta, nền lát gạch. Tổng thể kiến trúc của đình vừa mang vẻ bề thế của một ngôi đình cổ, vừa bảo lưu được nhiều yếu tố kiến trúc và nghệ thuật truyền thống có giá trị.
Trải qua thời gian dài cùng những biến động của lịch sử, đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, một phần di vật tại đình đã bị hư hỏng, mất mát. Tuy nhiên, Đình Thụy Lôi vẫn lưu giữ được một khối lượng di vật phong phú với nhiều loại hình và chất liệu khác nhau.
Đặc biệt quý giá là 34 đạo sắc phong thần có niên đại trải dài từ thời Lê đến thời Nguyễn, từ Phúc Thái 3 (1645), Thịnh Đức 4 (1657) đến Khải Định 9 (1924). Đình còn lưu giữ bốn ngai thờ, bài vị bằng gỗ được chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn; hai bộ kiệu sơn son thếp vàng dùng trong ngày hội; một hương án thờ nghệ thuật thế kỷ XIX; ba hoành phi; hai đôi câu đối; một bộ siêu đao, tám chiếc bát bửu; một đôi ngựa; một sập thờ trang trí văn triện; bốn mâm đài rước cùng một bia đá đã mờ.
Đình Thụy Lôi là một ngôi đình có niên đại sớm, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và nghệ thuật. Cùng với Đền Sái, Đền Thượng và Đền thờ Tiến sĩ Lê Tuấn Mậu, đình tạo nên một không gian di sản có mối quan hệ chặt chẽ về lịch sử, truyền tích và lễ hội. Nơi đây gắn với những dấu ấn từ thời dựng nước, với sự tích An Dương Vương xây thành Cổ Loa và những giai đoạn đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.
Đình cũng là nơi hội tụ các sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng, nơi người dân gửi gắm đời sống tâm linh, gìn giữ đạo lý và những thuần phong mỹ tục của quê hương. Trong các cuộc kháng chiến của dân tộc, người dân Ma Lôi - Xuân Lôi - Thụy Lôi đã có nhiều đóng góp, nhiều người hy sinh bảo vệ quê hương, đất nước. Các thế hệ người dân Thụy Lôi tiếp tục phát huy truyền thống trong lao động, học tập và bảo vệ Tổ quốc.
Về kiến trúc nghệ thuật, mặc dù đã trải qua nhiều lần trùng tu, di dời và tôn tạo, Đình Thụy Lôi vẫn bảo lưu được nhiều nét truyền thống của một ngôi đình cổ. Các bức cốn nách, con rường, đầu kẻ, đầu dư, đấu kê và những mảng chạm khắc mang giá trị nghệ thuật trải dài qua nhiều thế kỷ. Đặc biệt, hệ thống 34 đạo sắc phong cùng hoành phi, câu đối, ngai thờ, bài vị, hương án, kiệu rước và các hiện vật khác là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật, văn học cổ và văn hóa dân gian.
Trải qua hàng trăm năm tồn tại, Đình Thụy Lôi không chỉ là một công trình kiến trúc tín ngưỡng mà còn là nơi lưu giữ ký ức lịch sử và đời sống văn hóa của cộng đồng. Việc bảo vệ, tu bổ, tôn tạo, gìn giữ các sắc phong, bia đá, đồ thờ và những giá trị kiến trúc nghệ thuật của đình có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Ngày nay, Đình Thụy Lôi tại thôn Thụy Lôi 1, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội là một địa chỉ văn hóa giàu giá trị, góp phần làm nên chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa và không gian di sản đặc sắc của quê hương Thư Lâm.