Căn cứ vào tư liệu Hán Nôm hiện đang lưu giữ tại Viện Hán Nôm, cũng như tại Đình, cùng lời kể của các bậc cao niên trong làng thì đình Trí Thủy thờ Lý Thiên Bảo – vị Thành hoàng làng có công giúp Lý Nam Đế đánh đuổi giặc Ai Lao giang, giành lại giang sơn, thoát khỏi ách đô hộ của giặc phương Bắc.
Sự tích của vị Thành hoàng làng có nhiều dị bản, được nhiều sách ghi chép nhưng có thể tóm tắt như sau:
Hiện nay, nhân dân trong địa phương vẫn truyền tụng nhau đôi câu đối cổ:
Ngàn thu lưu sử sách
Vạn cổ tiếng thơm truyền.
Thuở ấy, Lý Nam Đế người huyện Thái Bình. Anh trong họ của Nam Đế, Cha (của anh họ) là Lý Tất Hưng, mẹ là Đàm Xuân Mỹ, ngày 6 tháng 3 sinh được Thiên Bảo, tức Lang đến ngày 10 tháng 3 năm Mậu Tuất sinh được Phần Long. Ngày thường ở trong phòng yên tĩnh một mình đọc sách viết chữ, không giao thiệp với người ngoài. Cho nên, ông đặc biệt rất tinh thông và am hiểu thế sự. Đến khi trưởng thành binh pháp võ nghệ không có gì là không biết. Đương thời, lúc đó nước ta thuộc ách đô hộ nhà Lương (Trung Quốc). Lúc ấy có nhiều cuộc khởi nghĩa dấy lên, nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm Thứ Sử Giao Châu, hắn thực hiện chế độ đô hộ hà khắc. Lý Nam Đế trước là thủ lĩnh đặng tập hợp mọi người trong hương tộc tới than thở: Chúng ta đang sống trong vòng đại nạn, nếu cứu giúp được mọi người thoát khỏi cảnh lầm than thì công trạng đó quả thực to lớn. Được mọi người gần xa hưởng ứng tin theo, ngài chuẩn bị cầu trời đất, bách thần tới phù giúp, các thủ lĩnh địa phương khác nghe tin đều mang quân tới giúp. Ngài liền khởi binh tấn công Thứ Sử Tiêu Tư. TIêu Tư bỏ chạy về Trung Quốc. Ngài chiếm được Kinh đô, đặt niên hiệu là Thiên Đức, quốc hiệu là Vạn Xuân, định ra bách quan, chế ra hình luật, trọng dụng tướng tài. Lang công là anh của Nam Đế đã lập được công lớn nên Nam Đế cùng với các tù trưởng tôn bầu ông lên ngôi Hoàng đế, nhưng Lang công là người phi thường, lại có cốt cách của bậc thần nên không muốn hưởng ngôi cao để thỏa mãn cho mình. Từ Nam Đế cho đến người dân đều gọi ông là Tiên Vương. Ông tính rất tôn trọng quỷ thần. Phàm những nơi nào là thánh địa linh ứng, Lang công đều đến tu sửa khi đi du lãm, thấy nơi nào có thắng tích đều tự mình để vịnh bút lục. Ngày hóa thiết triều phong tặng cho Thiên Bảo Đào Lang đại vương, cấp cho đất thang mộc để phụng sự tế sự cho ngài. Các quan nghênh sắc phong lĩnh tiền xây dựng triều quan ở sứ Sơn Tây. Phụ lão bản trang Đống Thủy, nghênh thỉnh thần phong thủy đi tìm thiên văn địa lý, trước là để xây hành cung có mạch đẹp, đất tốt bèn lập Miếu dường, phía trước có ngọn núi vắt ngang và nhiều ngọn núi khác chầu về, phía sau có mình rồng uốn khúc, lại có hai dòng sông như dải áo bao bọc. Đất này sẽ sinh ra nhiều con trai, giàu có và giỏi giang, là chốn linh thiêng hương khói muôn đời.
Một ngày ông đến trang Đống Thủy được các phụ lão nghênh đón hái tạ. Ông tâu với vua ban thưởng tước lộc. Ông thấy nơi này đất tốt có lộc thờ cúng muôn đời. Ông bèn cho xây hành cung, đi xem xét và ban cho dân tiền để trùng tu Miếu điện, phụng thờ sau này. Lại đem khu đất ruộng rộng rãi làm Hương Điền. Đến khi Nam Đế mất, không có người nối dõi, ông xưng là Lang Vương. Ông cầu đảo trời đất bách thần tới giúp để khôi phục đất nước chiếm lại Kinh đô, nhưng không được. Việc chưa thành thì ông mất.
Đến thời hậu Lý Nam Đế, sau khi đã lấy lại được Kinh đô, để tưởng nhớ đến công lao khai sáng của đấng Tiên Vương nên đương triều phong cho mỹ tự, húy tự là chữ Bảo, chữ Lang. Hai chữ này đều cấm. Ngày kỵ dung áo màu xanh lam để hành lễ. Ngày mùng 7 tháng giêng là ngày cầu phúc dung bò và lợn đen 5 cỗ. Ngày mùng 6, mùng 7 tháng 3 trước ngày sinh nhật dùng lễ xôi gà. Ngày đại tiệc có thể dung bò hoặc lợn tùy ý để cúng.
Ngày 12 tháng 5 là ngày lễ cơm mới
Ngày 12 tháng 3 là ngày cha sinh
Ngày 12 tháng 8 là ngày mất, nên coi là ngày đại tiệc
Ngày 12 tháng 10 là ngày lễ cơm mới
Ngày mùng 2 tháng 12 là ngày làm lễ cơm mới