Địa chỉ: Thôn Tuân Lệ, xã Phúc Thịnh, thành phố Hà Nội

Đình Tuân Lề (xã Phúc Thịnh, thành phố Hà Nội) là công trình tín ngưỡng cổ phụng thờ vua Lý Nam Đế (Lý Bí) làm Thành hoàng. Tổng thể di tích gồm nghi môn, sân đình, đại đình 5 gian 2 chái và tòa hậu cung, bao quanh bởi tường đá cổ, sân gạch và hệ thống cây cổ thụ tạo nên không gian trầm mặc, uy nghiêm. Đình có quy mô không lớn nhưng bố cục hài hòa, quay hướng Nam, phía trước có ao, vườn; xung quanh là cây cổ thụ như đa, gạo; phía trước là cánh đồng làng. Với niên đại khởi dựng ít nhất từ thế kỷ XVII, trải qua nhiều lần trùng tu vào thời Nguyễn và các đợt phục dựng năm 1954, 2004–2005, đình Tuân Lề là minh chứng sống động cho truyền thống tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời mang giá trị lịch sử gắn liền với cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của Lý Bí thế kỷ VI.
Đình còn bảo lưu 3 đạo sắc phong thần thời Hậu Lê và Tây Sơn rất quý hiếm: sắc sớm nhất có niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767), sắc niên hiệu Cảnh Hưng 44 (1783) và sắc niên hiệu Cảnh Thịnh 4 (1796); cùng một bản thần tích "Tiền Lý Nam đế vương nhất vị âm phù, nhị vị công chúa ngọc phả lục" do Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), hiện còn lưu tại kho tư liệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu AE 11/3. Ngoài ra, đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ tế tự khác như cây đèn, cây nến, lọ hoa và bát hương với số lượng nhiều, trống đại, cờ thần – những hiện vật phản ánh đời sống tâm linh phong phú và truyền thống thờ cúng lâu đời của cộng đồng cư dân.
Cũng như nhiều làng quê khác quanh vùng, làng Tuân Lệ mở hội vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch. Hội làng được tổ chức rất trọng thể, có đủ các nghi lễ mang tính truyền thống. Phần lễ với nghi lễ tế thần trang trọng, uy nghiêm, sau đó là lễ rước kiệu Thánh. Phần hội có tổ chức các trò chơi dân gian như đánh cờ, chọi gà, kéo co, thổ lồ, đu tiên, hát thờ cửa đình. Ngoài ngày lễ hội lớn, đình còn duy trì các nghi lễ cúng tế vào các ngày sinh, ngày hóa của Thành hoàng và hai vị nữ thần âm phù.
Không gian nội thất đình Tuân Lề gồm đại đình và hậu cung, nơi bài trí ban thờ Thành hoàng làng cùng hệ thống di vật có giá trị. Đại đình được cấu trúc theo kiểu 5 gian 2 chái, bộ khung gỗ với các vì kèo làm kiểu "thượng rường trung còn, hạ bảy gối tường", kết hợp 4 cột gỗ và tường xây bổ trụ. Trên các mảng chạm khắc ở cốn nách, đầu dư, rường cốn thể hiện phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX – XX với các đề tài tứ linh (long, lân, quy, phụng), quần hội, hổ phù, rồng mây – những mô-típ trang trí đặc trưng của đình làng Bắc Bộ. Đình còn lưu giữ các bức chạm khắc có giá trị thẩm mỹ cao, phản ánh tài năng và óc sáng tạo của các nghệ nhân dân gian.

Đình Tuân Lề tọa lạc trên một khu đất cao, rộng rãi, thoáng đãng, ngay ở đầu làng, bên dòng sông Thiệp – Hoàng Giang xưa chảy qua kinh đô Âu Lạc. Theo truyền thuyết, khi Lý Bí đánh đuổi giặc Lương đã dừng chân ở làng này; Ngài thấy nhân dân ở đây tuân theo luật vua, phép nước nên đặt tên là làng Tuân Lệ và lập tổng Tuân Lệ. Theo sách "Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX", thôn Tuân Lệ trước đây có tên là Cửa Ải (nghĩa của chữ Cửa Ải để chỉ một cửa ở phía Tây – Tây Nam của thành Cổ Loa). Đầu thế kỷ XIX, thôn Tuân Lệ thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, đến năm 1964 đổi tên xã là Tiên Dương và giữ nguyên tên gọi cho đến khi sáp nhập thành xã Phúc Thịnh.
Đình Tuân Lề có lịch sử tạo dựng từ lâu đời. Căn cứ bản sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng và bản thần tích soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), có thể đoán định niên đại xây dựng ngôi đình ít nhất vào thời Lê, thế kỷ XVII, và tồn tại đến nay đã trải qua nhiều lần trùng tu sửa chữa vào thời Nguyễn. Sau năm 1954, ngôi đình được tu sửa phần mái tường bao. Năm 2004–2005, dân làng Tuân Lệ đã công đức trùng tu lại tòa đại đình, phục hưng lại tòa hậu cung, cổng nghi môn và lát lại sân đình.
Đình Tuân Lề phụng thờ vua Lý Nam Đế (Lý Bí) làm Thành hoàng. Lý Bí là một nhân vật lịch sử đã làm rạng danh nước nhà trong thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc. Năm 542, Lý Bí đứng lên khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của nhà Lương trên đất nước ta. Mùa xuân năm Giáp Tý (545), Ngài xưng hiệu là Nam Việt Đế, dựng nước Vạn Xuân, thiết lập chính quyền tự chủ. Lý Bí là anh hùng dân tộc được nhiều nơi thờ tự tôn làm phúc thần. Trong Cách mạng tháng Tám và 2 cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đình Tuân Lề là nơi ghi dấu nhiều sự kiện cách mạng của địa phương: nơi tổ chức mít tinh thành lập chính quyền cách mạng lâm thời của xã Tuân Lệ, là địa điểm đặt hòm phiếu để chính quyền và nhân dân bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 23/12/1945). đình Tuân Lề được xếp hạng di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố theo quyết định số 3961/QĐ-UBND vào ngày 11/9/2006.

Nghi môn đình Tuân Lề là hạng mục kiến trúc mở đầu, đánh dấu ranh giới giữa không gian sinh hoạt đời thường của làng xã và chốn linh thiêng thờ tự Thành hoàng. Phía trước đại đình xây hai hồi vượt ra một bức tường lửng, mặt trong trang trí bức tranh "Mai lão", phía ngoài là cột trụ biểu kiểu trụ lồng đèn, thân trụ tạo gỗ nổi trên khắc câu đối chữ Hán, đỉnh trụ đặt tượng nghê đầu hướng vào sân đình. Cổng nghi môn được trùng tu năm 2004–2005, giữ lại phong cách kiến trúc truyền thống với đường nét trang trí mang tính biểu tượng cao.
Sân đình lát gạch, là khoảng không gian mở nằm giữa nghi môn và đại đình, giữ vai trò chuyển tiếp, đồng thời là nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng quan trọng của làng. Vào ngày hội làng mùng 6 tháng Giêng âm lịch, sân đình là nơi tổ chức các nghi lễ tế thần, rước kiệu Thánh và các trò chơi dân gian truyền thống. Ngoài lễ hội, sân đình còn là không gian tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao của cộng đồng dân cư.
Đại đình là hạng mục kiến trúc trung tâm và có giá trị nhất của đình Tuân Lề, nơi diễn ra các nghi lễ tế tự trọng thể nhất dành cho Thành hoàng làng. Đại đình được xây theo kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai, có trụ biểu ở hai hồi. Mái lợp ngói di, chính giữa bờ nóc đắp hình rồng châu mặt trời lửa, hai đầu bờ nóc đắp hình rồng đuôi xoắn miệng ngậm bờ nóc tạo cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng cho công trình kiến trúc.

Trang trí kiến trúc trên các mảng chạm khắc ở cốn nách, đầu dư, rường cốn, bẩy hiên đều mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX – XX. Đây là nơi lưu giữ những bức chạm khắc có giá trị thẩm mỹ cao với các đề tài tứ linh quần hội, phượng vũ, hổ phù, rồng mây – phản ánh trình độ điêu khắc tinh xảo và thế giới quan tâm linh phong phú của người Việt.
Tòa hậu cung 1 gian 1 chái chạy dọc về phía sau, tạo mặt bằng hình chữ "đinh" khi kết hợp với gian giữa nhà tiền tế. Nhà xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đỉnh, có hai bộ vì kèo gỗ đỡ mái đặt trên 4 cột gỗ và tường xây bổ trụ. Chính giữa hậu cung bố trí ban thờ Thành hoàng làng, bằng sập gỗ, nền nhà lát gạch vuông, cửa vào cung làm kiểu bức bàn, tạo nên không gian trang nghiêm, kín đáo theo đúng nghi thức thờ tự truyền thống. Trước thời Lý Nam Đế, tại đình có hai vị nữ thần được thờ ở miếu làng; sau khi có đình, dân làng đã rước thần vị của hai vị nữ thần về phối thờ tại đình. Sắc phong ghi sự tích 3 vị thần thời Lý: Ả Nương công chúa, Ả Thị công chúa và Bỉ Long Nam, để đế vương làm thượng đẳng thần.

Bên cạnh giá trị kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng, đình Tuân Lề còn gắn bó sâu sắc với lịch sử cách mạng của địa phương. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, hai thôn Tuân Lệ và Lệ Pháp là một, thuộc xã Tuân Lệ, dân gian vẫn gọi là Tuân Lệ. Theo ký ức của các cụ cao niên, trước đây làng Tuân Lệ cùng làng Trung Oai, Tiên Kha có chung đình Ba Cha; sau khi đình bị phá, nhân dân Tuân Lệ dùng đình thờ Thành hoàng làng trên đất của làng Tuân Lệ.