Đình Vĩnh Lộc Hạ
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Loại hình và Xếp hạng: Là di tích Kiến trúc Nghệ thuật (Lịch sử - Nghệ thuật). Được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng là Di tích Quốc gia theo Quyết định số 3436/QĐ-BVHTTDL ngày 12/10/2015.
2. Nhân vật thờ phụng và Giá trị lịch sử
Thần tích: Đình thờ Nhị vị Đại vương là anh em sinh đôi: Đương Cảnh Thành hoàng Bảo Dân Khuông Tiến Đại vương (ông Tiến) và Đương cảnh Thành hoàng Đô Hồ Đại tướng quân (ông Hồ). Hai ngài là những người tinh thông võ nghệ, có công lớn giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước ở thế kỷ thứ X.
Sự kiện lịch sử: Trong kháng chiến chống Pháp, đình là nơi chở che cho bộ đội du kích địa phương và là điểm tập kết của chiến sĩ cách mạng chuẩn bị vượt sông Đáy sang vùng Mỹ Đức. Năm 1946, đình từng được sử dụng làm lớp học bình dân học vụ.
3. Đặc điểm Kiến trúc - Nghệ thuật
Niên đại: Được khởi dựng vào thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII - XVIII). Quá trình tồn tại, đình bị cắt bỏ tòa Hậu cung khi đắp đê sông Đáy, và bị cắt 4 góc đao vào năm 1961-1962.
Bố cục: Tọa lạc hướng Đông Nam, tựa lưng vào đê sông Đáy. Tổng thể gồm: Ao đình, Nghi môn (dạng tứ trụ), sân, tả - hữu mạc (mỗi dãy 5 gian) và tòa Đại bái.
Nghệ thuật điêu khắc: Tòa Đại bái (bên trong gồm 3 gian 2 chái) giữ được bộ khung gỗ to khỏe kiểu "thượng thu hạ thách" mang đậm phong cách kiến trúc thời Lê Trung Hưng. Điêu khắc vô cùng sinh động với các mảng chạm bong kênh, chạm nổi hình "rồng ổ", "long nghê quần tụ". Đặc biệt và độc đáo nhất là bức chạm nổi hình người đóng khố, đầu vấn khăn đang leo cây túm đuôi con chuột trên kèo cổ ngỗng, mang đậm tính dân dã, hóm hỉnh của vùng châu thổ Bắc Bộ.
4. Hệ thống Di vật, Cổ vật
Sắc phong: Di tích tự hào lưu giữ được 12 đạo sắc phong từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn, trong đó sớm nhất là 2 đạo sắc niên hiệu Long Đức thứ 4 (1735).
Hiện vật khác: Bao gồm 02 Long ngai bài vị, 02 mũ thờ, 02 hia thờ, hoành phi "Hộ quốc tỷ dân", câu đối hình lòng máng, giá văn, bộ bát bửu, đôi hạc thờ bằng gỗ đứng trên lưng rùa, bát hương sứ men lam và bộ đài nước.
5. Lễ nghi phụng sự
Thời gian: Lễ hội long trọng được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng Giêng (ngày sinh của thần) và ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch (ngày hóa của thần).
Nghi thức: Lễ vật dâng cúng đặc trưng bắt buộc phải có bánh dày, thịt lợn đen, thịt trâu đen, cá chép. Ban tế gồm 17 người, chủ tế mặc áo thụng đỏ, các thành viên khác mặc áo quan văn màu xanh. Trong quá trình đọc văn tế và hành lễ, tuyệt đối phải kiêng húy hai chữ "Tiến" và "Hồ". Xưa có lệ rước long ngai bài vị lên các quán trong thôn nhưng đã bị bãi bỏ trong thời kỳ chống Mỹ.
6. Công tác bảo vệ và Khoanh vùng di tích
Khoanh vùng: Theo biên bản ngày 17/10/2013 và bản đồ chỉnh sửa năm 2014, do đình nằm trong khu dân cư và quy hoạch đê điều, hội nghị thống nhất chỉ khoanh Khu vực bảo vệ I với tổng diện tích 3.522,7 m2.
Phân bổ diện tích: Khu vực bảo vệ gồm toàn bộ ao đình, nghi môn, sân, đại bái và tả hữu mạc; được chia làm hai phần: Diện tích trong chỉ giới bảo vệ đê là 930,0 m2 và diện tích ngoài chỉ giới bảo vệ đê là 2.592,7 m2.
Thực trạng: Di tích đang có dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng ở các cấu kiện gỗ (mối mọt, mái xô, dột), cần được các cơ quan chức năng lập kế hoạch tu bổ, tôn tạo kịp thời và bổ sung một số đồ thờ tự. Mọi hoạt động quản lý, tu bổ phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Di sản văn hóa.



