Đình Vĩnh Phúc
Giới thiệu
Cấp xếp hạng di tích: Đình Vĩnh Phúc xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
1.Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích
Căn cứ Thần tích, sắc phong còn lưu tại di tích và lời kể của các cụ cao niên thì đình Vĩnh Phúc thờ Tam Vị Đại Vương dưới thời Hùng. Đó là Triều Lang, Thần Lang và Gia Lang. Sự tích của các vị thần xin được tóm lược như sau:
Ba Ngài vốn là con của ông Hùng Chiếu Công (là anh của vua Hùng), làm quan lang huyện Yên Sơn và bà Nguyễn Kim Nương, người trại Vĩnh Phúc. Vốn là người hiền lành, đức độ nhưng ăn ở với nhau đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa có con nối dõi, hai ông bà bèn đem của cải, vật chất đi giúp đỡ người nghèo khó khắp nơi để làm phúc. Cứ như vậy được ba, bốn năm thì động lòng trời. Một hôm, trời bỗng nổi giông bão tối tăm mù mịt, sông Tích Giang ào ào như sấm gọi. Sáng hôm sau ông ra thấy trước cung là vực sâu ba đến bốn trượng. Đêm ấy, Chiếu Công mộng thấy có ba người dung mạo lạ thường đi vào từ vực. Một chàng xưng là Triều, một chàng xưng là Thần và một chàng xưng là Gia là con Lạc Long Quân và Âu Cơ. Ba anh em giữ ngòi Mạo Khê, vâng mệnh vào làm con Chiếu Công. Nghe chưa hết lời, ông chợt tỉnh và biết là mình nằm mộng. Từ đó bà Nguyễn Thị có thai, đến ngày mùng 2 tháng 5, năm Nhâm Thìn thì sinh ra một bọc nở ra ba người con trai có phong thái khác thường. Chiếu Công nhân chuyện trong mộng đặt tên người thứ nhất là Triều, người thứ hai là Thần, người thứ ba là Gia. Khi ba chàng lên ba tuổi, Chiếu Công được nhà vua mời vào triều. Ông cùng vợ dẫn ba con cùng vào triều yết kiến nhà vua. Vua Hùng thấy ba chàng dung mạo khác thường bèn hỏi sự tình, Chiếu Công bèn tâu lại chuyện trong mộng, nhà Vua biết ba chàng là Thủy Thần giáng sinh bèn giữ lại trong cung để nuôi nấng. Đến năm 12 tuổi thì tìm thầy dạy học. Ba năm sau, ba chàng đã tinh thông văn, võ. Năm ba chàng 18 tuổi thì người cha qua đời, ba chàng về quê làm lễ an táng cho cha. Hai năm sau thì bà mẹ cũng qua đời.
Ba năm sau, nước nhà có giặc Ân xâm lược là Thạch Linh thần đóng ở núi Châu Sơn. Trước tình thế nguy nan, vua Hùng lập đàn cáo tế trời đất, Bách thần. Ba ngày sau thấy mưa bão tối tăm và xuất hiện một người lạ cao hơn 9 thước ngồi ở đường cái vừa nói vừa cười, chân giày tay múa. Thấy lạ, có người vào tâu nhà vua, vua bèn cho mời vào trong đàn hỏi thế giặc được thua thế nào? Người lạ bèn tính quẻ bảo rằng: trong nước có ba người là Thủy Thần là Triều, Thần và Gia, nhà vua hãy ra lệnh cho ba anh em xuất quân vây hãm giặc trước, sau đó đi tìm người trong thiên hạ thì thế giặc không phải lo ngại. Nói xong người đó biến mất, nhà vua biết ngài là Long Quân. Vua Hùng bèn gia lệnh cho một đạo quân đón ba chàng tiến trước hãm thế giặc, đồng thời vua sai sứ giả chiêu mộ tìm người giúp nước. Một hôm, sứ giả đến làng Phù Đổng, quận Vũ Ninh, đạo Kinh Bắc mộ được Thánh Gióng. Thánh Gióng ngộ cùng ba chàng đánh một trận bắt sống chém được Thạch Linh Thần, quận giặc tan tác. Đánh tan giặc, Thánh Gióng cưỡi ngựa lên núi Sóc Sơn bay về trời, vua phong là Phù Đổng Thiên Vương. Ba chàng Triều, Thần, Gia về triều được vua phong cho chức cao nhưng ba chàng xin về huyện Yên Sơn, cung Đại Phu. Nhà vua cho ăn lộc ở huyện Yên Sơn, sau đó hai Ngài lại đi hai trại là Vĩnh Phúc và Đại Phu dạy dân việc nông trang. Một hôm ba chàng đi đến ngòi Mạo Khê ở núi Tản Viên cùng chỉ và bảo rằng đây là nhà anh em ta. Nói xong bỗng thấy mưa bão tối tăm, nước sông dâng lên, ba chàng cùng xuống ngòi và hóa, hôm ấy là ngày mùng 10 tháng 7. Nghe tin, người dân trong vùng làm biểu tâu lên nhà vua, vua gia phong cho ngài Triều là Đệ nhất Linh Khê Đại vương, ngài Thần là Đệ nhị Linh Khê Đại vương, ngài Gia là Đệ tam Linh Khê Đại vương, sắc chỉ ban về trang Liệp Hạ, hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc lập miếu thờ.
Tại đình Vĩnh Phúc thờ Ngài thứ hai, đình Đại Phu thờ Ngài cả, đình Bái Nội thờ Ngài thứ ba.
Hiện nay, trong đình Vĩnh Phúc còn lưu giữ được 07 đạo sắc phong phong cho ngài thứ hai. Sắc năm Tự Đức thứ 6 (1853) có nội dung: “Sắc cho thần Thành Hoàng Gia Tam Lang. Ngài nguyên được tặng mỹ tự là Hậu Huống Mậu Liệt Bác Đạt, thần có công phù giúp đất nước, che chở cho dân, linh ứng lừng lẫy. Nay Trẫm kế ngôi báu, nghĩ đến công lao của Thần nên phong tặng thêm mỹ tự cho thần là: Hậu Huống Mậu Liệt Bác Đạt Đôn Ngưng, cho phép thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Hạ, huyện Yên Sơn được phụng thờ như cũ. Thần hãy che chở bảo vệ cho dân lành”.
Sắc năm Tự Đức thứ 33 (1880) có nội dung: “Sắc chỉ ban cho thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây từ trước vốn đã thờ cúng vị thần có mỹ tự là Hậu Huống Mậu Liệt Bác Đạt Đôn Ngưng Thành Hoàng Gia Tam Lang. Theo lễ, các triều đại đã ban tặng sắc phong cho phép dân xã được thờ cúng. Năm Tự Đức thứ 31 (1878), nhân dịp Trẫm tròn 50 tuổi đã ban chiếu báu, gia ân khắp vùng, nghi lễ khen thưởng rất long trọng. Nay cho phép dân xã được thờ cúng như cũ để ghi nhớ ngày đại lễ và mở mang việc thờ cúng. Hãy Tuân mệnh!”.
Sắc năm Đồng Khánh thứ 2 ghi: “Sắc ban cho vị thần Hậu Huống Mậu Liệt Bác Đạt Đôn Ngưng Thành Hoàng Gia Tam Lang. Ngài đã có công phù giúp đất nước, che chở cho dân, linh ứng lừng lẫy. Theo lễ, các triều đại đã ban sắc phong lưu tại nơi thờ tự. Nay Trẫm kế ngôi báu, tưởng nhớ tới công lao của thần nên phong tặng thêm mỹ tự cho vị thần là: Dực Bảo Trung Hưng. Cho phép thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây được thờ phụng thần như cũ. Thần hãy bảo vệ che chở cho muôn dân!”
Sắc năm Khải Định 9 (1924) ghi: “Sắc cho thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây vốn từ trước đã thờ cúng vị thần nguyên được ban tặng là: Hậu Huống Mậu Liệt Bác Đạt Đôn Ngưng Thành Hoàng Gia Tam Lang tôn thần. Ngài có công phù giúp đất nước, che chở cho dân, linh ứng lừng lẫy. Theo lễ, các triều đại đã ban tặng sắc phong, cho phép dân xã được thờ cúng. Nay nhân đại lễ mừng thọ Trẫm 40 tuổi đã ban chiếu báu, gia ân khắp vùng, nghi lễ khen thượng rất long trọng nên đã ban tặng thêm mỹ tự là Tĩnh Hậu, cấp bậc Trung đẳng thần. Nay cho phép dân xã được thờ cúng theo điển lễ để ghi nhớ công lao của thần”.



