Đình Xuân Đình
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Xuân Đình hiện thuộc thôn Xuân Canh, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những vùng đất cổ của huyện Đông Ngàn, xa xưa là vùng rừng rậm có sông Hồng chảy qua tạo nên những bãi bồi trù phú.
Nằm trong vùng đậm đặc những di tích lịch sử văn hoá, cùng với đền Cửa Sông, chùa Vân Hoạch - Pháo đài Xuân Canh, đình chùa Thượng Lão, đình Xuân Đình tồn tại đến ngày nay mang dấu ấn lịch sử liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng những năm đầu Công nguyên.
Thần tích còn lưu giữ tại đình cho biết: Vào đầu Công nguyên khi nước ta bị giặc Đông Hán cai trị, gây bao cảnh đau thương tang tóc, trăm họ khốn cùng, chưa có ai đủ sức đứng ra giúp nước. Trước đó, cháu gái vua Hùng là Trưng Trắc - một bậc nữ trung hào kiệt, cùng em gái là Trưng Nhị - quyết định khởi binh đánh giặc. Khi nữ tướng xuất binh phát động thần linh giúp đỡ, thiết lập đàn tế các vị linh thần, dâng sớ lên các bậc tiên hiền. Sau khi dâng sớ, bà hô hoán đốc thúc, truyền hịch cho các huyện, châu, đạo khắp nước Nam, người nào trượng võ toàn tài đều nên ra đánh giặc giúp nước. Trong ngày hôm đó Trưng Vương khởi binh đánh giặc, cờ bay trong gió vạn dặm, tiếng chiêng trống khua trấn động khắp ngàn non. Khi tiến quân đến khu đất Xuân Đình, trang Xuân Canh, huyện Đông Ngàn, đạo Kinh Bắc, bà liền dừng chân, cho quân lính nghỉ ngơi một đêm, rồi cầu thần ở đất ấy âm phù đánh giặc. Đến giờ Mùi canh tư, trong lúc đang mơ màng thì thấy một người đàn ông, mặc quần áo hồng có đính hạt châu, thân thể kỳ dị, hình dáng cổ quái, từ miếu bên đường đi tới tự xưng là con cháu của Lạc Long Quân, hùng trấn đất phương Nam, tên hiệu là Cửa Ngõ, rồi nói: “Trời đất đã sắp đặt, biên giới đã chia, nay thấy có kẻ xâm lược nước Nam nên muốn tới giúp sức đánh giặc, nguyện sẽ âm phù, một ngày lập công làm hiển hiện thần nhân”. Nói xong người ấy biến mất (hôm ấy là vào 16/ 3). Trong khoảnh khắc Trưng Nữ Vương chợt tỉnh, biết là có thần linh ứng mộng giúp đỡ. Hôm sau, bà mời các cụ phụ lão ở khu Xuân Đình hỏi cho rõ việc này. Các vị phụ lão thưa rằng: Quả đúng là ở khu Xuân Đình thờ phụng vị đại vương có tên hiệu như vậy.
Trưng Nữ Vương nghe vậy bèn làm lễ bái tạ rồi ngay trong ngày hôm ấy bà dẫn quân đi đánh Tô Định. Mới đánh một trận mà quân Tô Định đã đại bại, thu lại 65 thành trì, khôi phục nước Nam. Trưng Nữ Vương lên ngôi vua, mở tiệc chúc mừng, gia phong cho tướng sĩ theo phẩm cấp. Nhân đó bà nói: Giặc Tô Định sớm bị quét sạch là do có thần âm phù giúp nên gia phong cho bách thần, lại sắc phong cho vị thần Cửa Ngõ đại vương là Thượng đẳng phúc thần, cùng đất nước hưởng vận thái bình, muôn đời không quên. Thần Cửa Ngõ đại vương đã được các triều đại ban nhiều sắc phong ghi nhận công tích, hiện di tích còn giữ gìn được hai đạo sắc phong đó là Sắc ngày 6 tháng 4 năm Tự Đức thứ 11 (1858) và Sắc phong ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909) . Cũng như nhiều làng quê khác quanh vùng, làng Xuân Đình mở hội vào ngày 16 tháng 3 âm lịch hằng năm. Hội làng được tổ chức rất trọng thể có đủ các nghi lễ mang tính truyền thống. Phần lễ có cúng tế uy nghi, đây là nghi lễ tưởng nhớ công đức của thần đối với dân làng. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết trước đây vào ngày lễ hội có rước nước và ngày 8 tháng 3 là ngày lễ hội của thôn Thượng Lão thì phải rước từ đình Thượng Lão tới đình Xuân Đình, sau đó làm lễ xong thì rước thần về đình. Ngày nay, việc rước tế, lễ và rước nước không còn. Từ ngày hòa bình lập lại lễ hội tổ chức chính vào ngày 16 tháng 3 hằng năm và được duy trì đều đặn, nhưng các nghi lễ, trò chơi có sự giản lược. Hiện nay ngày hội làng còn tổ chức thêm các hoạt động văn hoá thể thao. Đình thờ Thành hoàng làng là Cửa Ngõ Đại vương nên dân làng kiêng hai chữ "cửa ngõ" được là "cổng ngõ".
Căn cứ vào thần tích, sắc phong và các di vật còn lưu giữ tại di tích có cơ sở đoán định đình Xuân Đình được xây dựng ít nhất từ thời Lê - Nguyễn thế kỷ XVIII - XIX. Ngôi đình đã bị tiêu thổ trong kháng chiến, những năm 80 của thế kỷ XX, nhân dân đã góp công của dựng lại 3 gian hậu cung đình để thờ cúng và giữ lại các di vật. Năm 1998 nhân dân tu bổ lại phần hậu cung phục dựng 3 gian đại đình trên nền đình cũ và giữ nguyên cho đến nay.
Cổng được xây đơn giản nối với tường bao, qua cổng là sân hẹp được lát gạch, trồng cây lưu niên và cây cảnh ở xung quanh. Đại đình gồm 3 gian làm lối đầu hồi bít đốc tay ngai có trụ biểu, 2 bộ vì giữa bằng gỗ làm quá giang vượt, kèo kìm, 2 bộ vì hồi kèo kìm quá giang gối tường. Trên các bộ vì được kẻ soi, điểm chạm lá lật. Mái lợp ngói ta, nền lát gạch men. Hậu cung gồm 2 gian, 3 bộ vì gỗ được làm kiểu thượng giá chiêng, kẻ luồn, hạ kẻ trường gối tường hai bên, mái lợp ngói ta nền lát gạch men.
Phía trong đại đình và hậu cung đặt ban thờ với các đồ thờ được sơn son thếp vàng. Các bức hoành phi câu đối ca ngợi công lao của thần, trong số đó đôi câu đối cổ có nội dung:
Lớn lao như thần đang hiển hiện, phù giúp suốt từ xưa tới nay, dân mãi được hưởng lộc gió nhân
Mênh mang không thể gọi tên, vừa mới chìm vào giấc mộng nhưng chỉ thấy màu áo hồng đêm thanh vắng.
Gian giữa hậu cung xây ban thờ gạch đặt ngai thờ bài vị ở vị trí trung tâm, ngai thờ bài vị được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Phía trong cùng giáp hồi hậu cung là bức cửa võng lớn được tạo tác vào đầu thế kỷ XX niên hiệu Bảo Đại thứ 10 (1935). Trên bức cửa võng trang trí đề tài tứ linh, tứ quý, rồng chầu . Đặc biệt phải kể đến đôi lân đỡ phía dưới của cửa võng được chạm trổ tinh xảo, với nét chạm sống động các cụm mây xoắn, đao mác mềm mại, mặt sống động. Trong các ô nhỏ chạm tứ linh trong tư thế như đang nhảy múa lân vờn, phượng vũ, hổ phù ngậm trăng…
Điều đáng chú ý ở di tích là còn một số lượng di vật cổ khá nhiều và đều là di vật quý. Đôi sấu đá có niên đại tạo tác thế kỷ XVIII là một cổ vật quý hiếm trong các di tích của huyện Đông Anh và các di tích khác của thành phố. Bằng nét chạm tinh tế người nghệ nhân đã làm nên một tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao, nhìn vào ta như thấy linh vật đang cười với sự cầu thịnh, đao mác mềm mại, bố cục thân mình cân đối hài hoà. Ngoài ra ngôi đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ cúng khác như bộ chấp kích,biển lệnh, mâm thờ chân quỳ dạ cá, kiệu long đình có những nét chạm khắc tinh xảo mang giá trị nghệ thuật cao.
Di tích đình Xuân Đình được xếp hạng Di tích lịch sử nghệ thuật cấp Thành phố tại Quyết định số 5501/QĐ-UBND ngày 5/11/2010.



