Đình Xuân Trạch
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Di tích đình Xuân Canh được xây dựng từ khá lâu đời. Qua hệ thống sắc phong còn lưu giữ được, có đạo sắc niên đại sớm là sắc năm Cảnh Hưng 4 (1743), những hiện vật mang phong cách thế kỷ XVIII,… chúng ta có thể nhận định di tích được xây dựng khoảng trước năm 1743. Ngôi đình đã trải qua nhiều lần trùng tu, mới đây nhất là vào năm 2017 - 2018 tu bổ tòa đại đình, giai đoạn 2 sẽ trùng tu hai bên tảo mạc, nghi môn, sân vườn, ao đình. Đình Xuân Canh hay còn gọi là đình Thượng Lão là nơi thờ thần Cao Sơn Đại vương, song không phải Cao Sơn là anh em con chú con bác với Tản Viên Sơn thánh. Theo bản khai thần tích thần sắc của các chức dịch xã Xuân Canh năm 1938 thì Thần hiệu là Văn Trương (Văn Tràng) quê ở trang Bảo Lĩnh, tỉnh Quảng Tây. Bà mẹ nằm mộng thấy nuốt sao Vũ Khúc mà có mang, rồi sinh ra thần. Phần từng làm quan to nhà Tống, sang nước ta rồi ở lại Việt Nam, đến Thượng Lão khi đó còn là một trại đã mở lớp dạy chữ cho con em dân địa phương trong ba năm. Đến khi vua Lý Nhân Tông mở khoa thi, ngài ra ứng thí và đỗ tiến sĩ (?). Khi giặc Liêu xâm phạm bờ cõi nước ta, ngài đem quân đi các nơi tuần thú, lập đồn lũy tại Thượng Lão để chống giặc. Dân trại xin được làm thần tử. Ngài ban cho dân trại 10 hốt vàng để mua ruộng ao, làm nơi thờ cúng sau này. Sau đó, ngài dẫn quân đánh tan giặc Liêu, đất nước thanh bình. Ngài được phong thực ấp ở Kinh Bắc. Trên đường trở về thực ấp, đến núi Tiêu Sơn (nay thuộc thị xã Từ Sơn), ngài trông lên trời thấy đám mây vàng sà xuống và tự nhiên hiển hóa. Hôm đó là ngày 12 tháng Chín. Dân trại tâu báo lên. Triều đình cho phép dân được lập đền thờ cúng, các triều vua đều có sắc phong.
Ngoài Cao Sơn đại vương, đình Xuân Canh còn phối thờ 2 vị nhân thần là Tạp Bộ đại vương và Thánh Kiều đại vương. Hai ngài đều có công tòng chinh giúp vua Lý dẹp giặc, song sự tích đã bị thất truyền. Từ năm 1962, đình còn tiếp nhận cả bài vị và bát hương thành hoàng làng Vân Hoạch do đình làng này bị Pháp đốt năm 1946. Hiện tại đình Xuân Canh còn lưu giữ 2 đạo sắc phong của chu thần của đình Vân Hoạch có niên đại Duy Tân thứ 3 (1909); Khải Định thứ 9 (1924). Đình Xuân canh gồm có tam quan, sân đình, tả hữu mạc và đại đình. Nghi môn đình được làm theo lối tứ trụ, mở ra 3 cổng vào đình. Hai dãy tả, hữu mạc có kiến trúc đơn giản kiểu tường hồi bít đốc. Mỗi dãy gồm ba gian hai dĩ, vì kèo kết cấu theo lối chồng rường, bào trơn, kẻ soi. Mái lợp ngói ta, nền lát gạch Bát Tràng cổ. Đại đình 3 gian 2 chái rộng, 4 mái cuốn đao tạo cảm giác nhẹ nhàng, bay bổng cho kiến trúc. Gian giữa làm nơi tế lễ, các gian bên tôn nền cao làm nơi hội họp việc làng. Bộ khung kết cấu 6 hàng chân, 6 bộ vì gỗ lim. Hậu cung là một nếp nhà dọc ba gian gắn với gian giữa tòa đại đình. Chính giữa hậu cung là một khám thờ bên trong bài trí hai bộ long ngai bài vị thờ các vị thần hoàng làng. Phần chính của đình là tòa đại đình gồm 5 gian 2 dĩ, kiểu 4 mái. tạo cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát, bay bổng. Bộ vì làm kiểu “thượng giá chiêng, hạ kẻ chuyển”. Mỗi bộ vì kèo có kết cấu mặt bằng theo lối sáu hàng chân. Cấu trúc của các vì kèo là những bộ phận trụ chống chủ yếu, nối bằng những xà dọc phía dưới và những đường hoành phía trên để tạo thành một khung cột vững chắc đỡ toàn bộ lực đè của mái đình.
Trang trí kiến trúc và điêu khắc tại đình cho thấy nghệ thuật được thể hiện phong phú về đề tài, đa dạng về nội dung và hầu hết đều mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII - XIX.
Nét nổi bật trên kiến trúc đình là các mảng chạm khắc tỷ mỷ, công phu, với đề tài chủ đạo là các hình rồng. Các mảng trang trí tập trung chủ yếu trên các bức cốn, đầu dư, kẻ, bẩy và một số họa tiết trang trí trên đầu xà, con rường… Song đẹp hơn cả là nghệ thuật trang trí trên hai bức cốn của gian giữa tòa đại đình. Trên các bức cốn này, đề tài trang trí chủ đạo là rồng cuốn thủy. Bên cạnh những bức chạm điêu khắc rồng là đề tài phượng vũ với đôi cánh dang rộng trong thế bay. “Long mã chở hà đồ” đầu và thân được thể hiện hình rồng, bốn chân co lên trong tư thế phi nước đại. Hình ảnh “Thần quy lạc thư” đang bơi trong hồ nước, cùng với các họa tiết sóng nước, văn xoắn, đao mác… Điều đặc biệt rất ít nơi còn giữ được là mảng chạm trên các thân xà chồng gian cạnh đình thể hiện bức tranh rồng cuốn thuỷ sinh động. Ở đó thể hiện đủ hình tượng mây mưa sấm chớp, sóng nước, rồng ẩn hiện, cuốn nước. Cũng trên thân xà gian cạnh được chạm hai chú lân con với tư thế khoan thai, hồn nhiên như đang xem rồng cuốn thuỷ... Các đầu dư thể hiện rồng với tư thế nhìn thẳng, miệng ngậm ngọc, đao mác theo lối râu trê, là kiểu chạm mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.
Di vật còn lưu giữ tại di tích có rất nhiều chủng loại với nhiều chất liệu khác nhau. Một số di vật tiêu biểu như: Thần tích, sắc phong niên đại Cảnh Hưng thứ 4 (1743), sắc phong năm Tự Đức thứ 10 (1857) và Tự Đức thứ 33 (1880), sắc phong năm Khải Định thứ 2 (1917); Hai pho tượng phỗng bằng đá, cao 22cm, tạc trong tư thế quỳ, khá ngộ nghĩnh, khuôn mặt tạo nét gồ ghề, hai tay chắp trước ngực, bụng nở, quỳ ngồi, song vẫn thanh thoát nhẹ nhàng mang đặc trưng nghệ thuật thế kỷ XVIII; 1 khám thờ; 02 ngai thờ bài vị chạm rồng chầu, tứ linh, hoa dây; 01 bộ bát bửu (8 chiếc) chạm lộng; 01 bộ giá văn trang trí “long mã hà đồ” phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.
Thường niên, vào dịp xuân thu nhị kỳ, ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch (ngày sinh) và ngày 13 tháng 8 âm lịch (ngày hoá) của đức thánh, dân làng Xuân Canh tổ chức mở hội, lễ hội mang tính truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc cùng những nghi thức thể hiện lòng kính trọng, biết ơn vị thành hoàng làng. Phần rước nước được tổ chức từ sáng sớm. Đồ dùng trong lễ rước có choé đựng nước, giá kiệu, tàn tán, bát bửu, binh khí, hương án và các loại cờ lọng. Lễ rước từ ngã ba sông Hồng về tế tại đình. Ngoài việc tế còn có rất nhiều trò vui dân gian. Xưa có ném pháo phượng, gồm 3 con phượng làm bằng giấy treo trên cây nêu cao, những người tham dự cuộc chơi đốt pháo ném lên, nếu cháy phượng là giật được giải. Trò chơi này chỉ có ở Xuân Canh và nay đã bị mai một.
Đình Xuân Canh là một di tích ra đời sớm, sự tồn tại suốt mấy trăm năm của di tích khẳng định vai trò quan trọng của ngôi đình trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương.



