Đình Xuân Trạch
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Đình Xuân Trạch có vị trí ở trung tâm làng. Theo các bậc cao niên, đây là ngôi đình được xây dựng lại sau khi 5 làng Canh Trấm tách biệt đình, dựa trên trang trí kiến trúc cũng như các cổ vật, có thể nói đình - đền Xuân Trạch được xây dựng từ thời Hậu Lê, trùng tu vào thời Nguyễn. Ngôi đình đầu tiên được khởi dựng ở gần chân đê với địa danh là đình Khiếm, lúc đó ngôi đình còn làm trái cuốn đao cong đồ sộ và cũng có đền thờ Mẫu ở cạnh bên. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) dân cư chuyển vào khu vực hiện nay nên đình và đền cũng được chuyển về cùng. Kiến trúc của đình có sự tu bổ lại, thu hẹp bỏ chái và đao, đền Mẫu bố trí ngay cạnh hậu cung của đình. Đến đầu thế kỷ XX, đền được dựng riêng ra vị trí sau đình như hiện nay. Đến năm 1941, sàn gỗ của đình bị hỏng đã được bỏ đi lát gạch hoa gian giữa (loại gạch men Hưng Ký), còn đền làm thêm hiên vòm cuốn đắp bệ tường hoa lan can. Những năm gần đây, đình và đền được tiến hành một số lần tu sửa các hạng mục nhỏ như thay xà, đảo ngói, chống dột v.v... Đình thờ Xạ thần Quốc lang Minh Sơn đại vương, là con thứ 5 của vua Hùng Nghị Vương (Hùng Vương thứ 17).
Đình Xuân Trạch có cổng nghi môn làm lối tứ trụ, các trụ xây cao trang trí chóp phượng, ô lồng đèn đắp nổi rồng phượng, hoa lá. Cổng giữa có làm mái bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt cách điệu giản đơn cùng hoa văn trang trí điểm xuyết. Cổng giữa làm mái đơn giản và xây chủ yếu bằng gạch Bát Tràng, mái lợp ngói ta, cuốn đao cong. Hai cổng nhỏ hai bên làm đơn giản, hai trụ nhỏ đỉnh trang trí lân châu, mái đắp vữa giả ngói.
Đình làm hướng Nam, bố cục mặt bằng kiểu chữ "đinh", mái lợp ngói dĩ. Đại đình có 5 gian 2 chái làm kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai có trụ biểu. Bờ nóc đắp nghê chầu ở hai đốc ngoảnh vào, mặt nguyệt đặt vị trí chính giữa. Trụ biểu 2 bên tương đối như nhau, đỉnh đắp nghê chầu, các ô tả hệ tứ linh, tứ quý. Hậu cung của đình có 4 gian làm lối đầu hồi bít đốc, 2 vì gỗ làm quá giang vượt đỡ khung vì theo lối giá chiêng, 2 bên là kẻ luôn bưng cốn, xà chống. Hai xà lớn chạy dọc gối quá giang đỡ các xà hoành mái.
Trên kiến trúc của đình được trang trí với rất nhiều mảng chạm trên xà, đầu dư, cốn mang phong cách nghệ thuật cuối thời Hậu Lê. Hầu hết các cấu kiện kiến trúc của đình đều trang trí, cả các dư, các xà và màn giếng. Trên các thân kẻ, xà có nhiều mảng chạm với nhiều đề tài, thể loại như tứ linh, tứ quý, lá cúc đan xen. Có hai lối thể hiện chính theo phong cách thời Hậu Lê thế kỷ XVIII và đầu Nguyễn thế kỷ XIX. Các mảng chạm đều được làm bằng kỹ thuật chạm lộng, bong kênh, thời Nguyễn có thêm lối chạm gần và họa tứ linh. Các đầu dư của đình hầu hết được giữ như thời đầu khởi dựng với lối rồng cỏ đao mác hình sợi kéo dài về sau. Một số cốn được tạo tác thời Nguyễn thể hiện đề tài tứ linh chạm khắc cầu kỳ nhiều lớp và hình khối chạm tỉ mỉ. Bức chạm màn giếng còn giữ được nguyên vẹn ở giữa đình là một tác phẩm nghệ thuật đẹp, thể hiện sự tài hoa, khéo léo của người thợ thủ công. Đề tài chủ yếu trên màn giếng vẫn tập trung miêu tả hệ tứ linh, ngũ phúc, có ảnh hưởng của Kinh Dịch, ngũ hành... Trong các di tích ở huyện Đông Anh, đây là tấm màn giếng cấu kỳ, làm sớm và đẹp nhất hiện còn.
Bên cạnh những mảng chạm tinh tế, sinh động có giá trị, đình Xuân Trạch còn lưu giữ nhiều di vật quý như: 11 đạo sắc phong đẹp có niên đại từ cuối triều Hậu Lê niên hiệu Cảnh Hưng đến triều Nguyễn. Các sắc phong chủ yếu ghi chép việc Xuân Trạch phụng thờ Thành hoàng làng là Xạ thần Quốc lang Cao Minh Sơn Đại vương, có nhiều mỹ tự đẹp và được phong là Thượng đẳng thần; tấm bia đá niên đại Tự Đức năm thứ 9 (1856) ghi "Xã thần ngọc phả bi ký" ghi chép lại công tích của Thành hoàng làng và Thánh Mẫu làng thờ. Ngoài ra, đình còn có ngai thờ Thành hoàng làng còn đủ cả mâm ý, bài vị với các họa tiết trang trí công phu, chạm trổ cầu kỳ sinh động được sơn son thếp vàng; một số ô cửa võng làm bằng gỗ sơn son thếp vàng đều mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ XIX.



