ĐÌNH Y SƠN
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu

Làng Núi Y Sơn, xã Đồng Mai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ nay là 3 tổ dân phố 28,29,30 phường Yên Nghĩa – Thành Phố Hà Nội, có một di tích được xây dựng từ lâu đời, đây chính là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của toàn thể dân Làng Núi Y Sơn. Theo lời các cụ để lại, dấu tích đình cổ đặt tại đền Quán Hạ ngày nay. Trước năm 1936 được dân làng di chuyển vào vị trí đình hiện tại. Năm 1936 , được dân làng trùng tu và lấy tên gọi là đình Y Sơn. Đến ngày 1/7/2026, thực hiện chủ trương sát nhập các tổ dân phố của Đảng và Nhà nước thì di tích đình Y Sơn có địa chỉ mới tại tổ dân phố Nhân Sơn, Phường Yên Nghĩa, Thành phố Hà Nội.
Để nhớ ơn công lao to lớn của đức thành bố cái đại vương Phùng Hưng, từ xa xưa làng núi Y Sơn phụng thờ. Năm 2013 cán bộ các cụ hai giới cùng các ban ngành đoàn thể cúng tiến đã vận động nhân dân trong làng cùng khách thập phương phát tâm đúc tượng đức thánh bằng đồng đỏ nguyên khối nặng gần 700kg, cùng 9 chỉ vàng thật để giáp ngai, mũ, áo và long bào .
Lễ yên vị và khánh thành đúng vào dịp kỷ niệm 1225 năm ngày hóa của đức thánh 13 tháng 8 năm Quý Tỵ ( 2013 ), hoàn thành bia tháng 4 năm Ất Mùi 2015.
Phùng Hưng Đại Vương sinh ngày 25 tháng 11 năm Canh Tý, quê ở thôn Cam Lâm, châu Đường Lâm, trấn Sơn Tây (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây).
Thân phụ của Ông là Phùng Hạp Khanh - Một người hiền từ đức độ đã từng tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722 ở Thiên Lộc (Hà Tĩnh) sau về quê cùng vợ là một người con gái họ Sử. Hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn trở nên giàu có. Vì vợ chồng Ông có tấm lòng thương người và luôn giúp đỡ người nghèo, tu tâm tích đức, nên đã sinh được ba người con trai là: Phùng Hưng, Phùng Hải và Phùng Dĩnh, ba anh em khôi ngô tuấn tú, trên thông thiên văn dưới tường địa lý.
Phùng Hưng là một người văn võ toàn tài, có sức khỏe phi thường vật được Trâu đánh được Hổ. Truyện kể rằng: Một lần Ông đánh được hai con trâu mộng, lần khác Ông hạ gục được một con Hổ hung dữ trừ hại cho dân. Em của Ông là Phùng Hải có sức khỏe hơn người, mọi người nghe tiếng đều mến mộ và kính phục. Người em út của Ông là Phùng Dĩnh cũng không kém hai người anh, Ông cũng có sức khỏe phi thường, văn võ toàn tài.
Năm Đại Lịch thứ 2 đời nhà Đường (767) Cao Chính Bình là một quan lại của nhà Đường sang thống trị đất Việt. Hắn đã thi hành chính sách cai trị hà khắc, vơ vét của cải, thuế má nặng nề, hình phạt dã man tàn bạo khiến trăm họ lầm than người người căm phẫn. Phùng Hưng đã dựng cờ khởi nghĩa, chiêu binh mãi mã thu nhận người hiền tài đánh giặc cứu nước. Ông đã được nhân dân tin tưởng và ủng hộ. Chỉ sau một thời gian ngắn quân sĩ lên tới hàng vạn người. Ông đi đến đâu được nhân dân hưởng ứng theo đến đấy, không mấy chốc quân sĩ đã trở thành lực lượng hùng hậu. Ông vừa huấn luyện quân vừa cùng các em đưa quân đi trấn giữ các vùng trọng yếu để thuận tiện cho việc chỉ đạo cho việc khởi nghĩa. Phùng Hưng đổi tên là Cự Lão và xưng là Đô Quân, còn Phùng Hải đổi tên là Cự Lực và xưng là Đô Bảo, Phùng Dĩnh xưng là Đô Thống, ba Ông cùng các tướng lĩnh như: Thiện An, Thiện Cứ, Đỗ Nhung, Lãnh Bình, Lục Thành, Lục Kiểu, Hà Trái, Bồ Phá Cầu, Đỗ Anh Hàn... chia nhau đi trấn giữ các vùng phụ cận.
Ngày 12 tháng 2 năm Tân Dậu (781), Vương cho cử hành Đại lễ tế cờ xuất quân, tại Đại bản doanh trên gò Lĩnh Hán của trang Khúc Giang (nay là làng Triều Khúc).
Từ đây, Vương chia đại quân ra làm 6 đạo tiến về phủ thành. Đến cuối thế kỷ thứ VIII, năm Tân Mùi (791), thời cơ đến, Đỗ Anh Hàn - Một trong những danh tướng của Ông đã hiến kế bao vây Thành Tống Bình. Phùng Hưng nghe theo và quyết định xuất quân chia thành nhiều cánh, nhiều ngả xuất phát từ Sơn Tây bất ngờ tiến về thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Phùng Hưng chỉ đạo hai đạo quân của Ông Thì và Ông Điền bố trí đóng quân ở phía đông Thành để chặn đường rút lui của giặc. Cao Chính Bình đem 4 vạn quân ra nghênh chiến. Với khí thế chiến đấu dũng mãnh của nghĩa quân, cùng với các tướng sỹ có tài chỉ huy thao lược, Phùng Hưng đem đại binh ra chiến đấu, nghĩa quân đi đến đâu địch tan tác đến đó, quân giặc hoảng loạn phải rút vào thành cố thủ. Cao Chính Bình chỉ huy hơn 4 vạn tướng sĩ để chống trả. Cuộc giáp chiến kéo dài suốt 7 ngày đêm, quân ta chiến đấu rất dũng cảm, quân giặc chết không biết bao nhiếu mà kể máu giặc làm đỏ ngàu cả khúc sông Nhị Hà và sông Tô Lịch. Tinh thần quần giặc hoang mang, rối loạn. Cao Chính Bình phải vội vàng xua tàn quân vào phủ thành Tống Bình. Vương lập tức điếu quân bao vây, công phá 8 mặt phủ thành. Cao Chính Bình lo sợ, phẫn uất thành bệnh ở Lưng mà chết, số giặc còn lại phải mở cổng thành ra hàng. Nghĩa quân Phùng Hưng thừa thắng xông lên bao vây cả 4 mặt tiến đánh ác liệt. Quân giặc không chống cự nổi xác phơi ngổn ngang, số tàn quân thì bỏ chạy, Cao Chính Bình tự vẫn, Phùng Hưng chiếm được thành quân ta đại thắng.
Vương kéo quân vào thành, vỗ về yên dân, sửa sang lại các cung diện, lầu gác và thành trì. Ngày mùng 10 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (782), Vương cử hành Đại lễ tức vị, đăng quang lên ngôi. Quân dân trong thành reo mừng, tung hô: Vạn tuế. Từ đó, trăm họ được hưởng cảnh thái bình, yên vui, chấm dứt một thời, kỳ dài đen tối.
Năm 791, Phùng Hưng lên nắm quyền trị vì đất nước, nhân dân hưởng thái bình. Được 7 năm thì Ông mất vào ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (802) hưởng thọ 41 tuổi. Nhân dân cả nước thương tiếc không nguôi.
Sau khi Vương băng hà, dân chúng mới suy tôn người con của Vương là Phùng An lên làm Đô Phủ Quân. Phùng An suy tôn thân phụ làm “ Bố Cái Đại Vương” , bởi theo quốc tục xưng cha bằng “Bố”, gọi mẹ là “Cái” nên mới gọi như vậy, Phùng An nối ngôi được 3 năm Tháng 7 năm Tân Mùi (791), Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm An Nam Đô hộ, Triều Xương sang đến nơi trước hết sai sứ giả đem lễ vật tới dụ Phùng An. Trước thế giặc mạnh và hung hãn biết quân ta không thể chống trả nổi; để tránh cho quân dân không phải đổ máu thêm nữa, Phùng An đành phải ra hàng. Từ đó, người nước ta, đều phải làm thần thiếp cho người phương Bắc cả.
Vương vừa mới mất đã hiến linh, thường ở trong thôn dã, hiện hình thành thiên xa, vạn mã, bay lượn trên mái nhà, trên cây cổ hoán, tiếng cờ trống, võng kiệu vang lên nghe rõ mồn một giữa ban ngày.
Lại nói sinh thời, nhớ công ơn phụ vương, Phùng An đã cử các bậc hiền thần đi tìm những nơi có dấu tích vua cha để lập miếu thờ.
Sau khi mất Ông được đưa về Trại Tấu Mã phía tây phủ Tống Bình, nay thuộc phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Bên lăng mộ của Ông được ghi đôi câu đối có nội dung:
"Đường nhân kỷ hữu, Tam hoa ngạc, Liên huy thân hậu, Thuyên vô huyền vũ giáp.
Hán tặc hà túc sỹ, Thảo mạo xương nghĩa sinh tiền số lục làm binh."
Tạm dịch:
"Người Đường phải lấy làm xấu hổ với anh em ta, đời sau không còn ai chịu cúi đầu làm nô lệ.
Giặc Hán không biết nhục, cỏ cây còn dựng lên, đời ta còn sống, dân ta còn nổi lên như rừng."
Truyền rằng: sau khi mất Phùng Hưng rất hiển linh, Ông thường hiện lên giúp dân lúc hoạn nạn, hiển ứng âm phù giúp Ngô Quyền đánh thắng giặc Hán trên sông Bạch Đằng, vì vậy nhân dân đã lập đền thờ Ông ở nhiều nơi.
Phùng Hưng là một vị anh hùng dân tộc đã đánh đuổi bọn đô hộ nhà Đường giành lại quyền tự chủ cho đất nước. Sau khi mất Ông được suy tôn như bậc cha mẹ của dân (Bố Cái Đại Vương). Nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ phụng như: Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Tây), Kim Mã (Ba Đình, Hà Nội), Thôn Quảng Bá, xã Quảng An (Quận Tây Hồ, Hà Nội), Triều Khúc (Hà Đông, Hà Tây), Phương Trung (Thanh Oai, Hà Tây), thôn Y Sơn (xã Đồng Mai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây)...
Đình Y Sơn được tọa lạc trên một thế đất cao đẹp ở làng núi Y Sơn trông về hướng chính Nam. Bên hữu là dòng sông Đáy rộng lớn chảy qua địa phận huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây nay là tổ dân phố Nhân Sơn, phường Yên Nghĩa, Thành phố Hà Nội. Xung quanh đình là khu dân cư đông đúc quần tụ tạo nên một phong cảnh đầm ấm của một làng quê Việt Nam truyền thống.
Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng cũng như một số di vật còn lại như chân cột đá thì xưa kia đình Y Sơn có quy mô bề thế của vùng Thanh Oai gồm: Đại bái 3 gian 2 chái, 4 mái đao cong. Nhưng do thời gian và chiến tranh huỷ hoại, ngôi đình xưa kia không còn nữa. Để tiếp nối truyền thống cha ông, uống nước nhớ nguồn, nhân dân đã xây dựng lại ngôi đình trên nền đất cũ. Hiện tại, hạng mục chính của ngôi đình gồm: Nghi môn, bình phong, Đại đình, Hậu Cung và hệ thống sân vườn...
Từ đường vào hạng mục đầu tiên ta gặp là Nghi môn. Nghi môn đình Y Sơn được xây dựng theo kiểu trụ biểu với ba lối đi. Lối đi chính là hai trụ biểu đồ sộ, trên đỉnh trụ đắp nổi tứ Phượng chầu cách điệu hoa dành. Phượng ở đây là linh vật biểu hiện cho tầng trên được quy định trong mỹ thuật cổ truyền Việt Nam: Đầu đội công lý, mắt là mặt trời mặt trăng, lưng cõng bầu trời, đuôi là các vì tinh tú, cánh là gió chân là đất, lông là cây cỏ... Vậy Phượng biểu tượng cho vũ trụ, tượng trưng cho sự vận chuyển của bầu trời gắn với truyền năng của thánh nhân. Phượng đứng trên trụ biểu tượng trưng cho trục âm dương, trục vũ trụ, nối thế giới dương gian với thế giới tâm linh, đem sinh khí từ trời cha truyền xuống cho đất mẹ. Tiếp đó là mặt sập hổ phù, bốn góc có bốn đầu rồng vươn ra bốn hướng uy nghi. Bên dưới là ô lồng đèn bốn mặt có đắp nổi các gờ chỉ trang trí, bên trong ô lồng đèn đắp theo tích tứ linh bằng vôi vữa (Bốn con vật linh thiêng Long, Ly, Quy, Phượng). Thân trụ có ghi các câu đối bằng chữ Hán nhằm ca ngợi cảnh quan ngôi đình và công đức của vị thành hoàng làng. Giữa hai trụ lớn với hai trụ nhỏ là hai lối đi được làm theo kiểu cổng pháo nhỏ bốn mái. Nối với cổng pháo hai bên là hai trụ biểu nhỏ. Hai trụ này được làm đơn giản hơn hai trụ biểu lớn, trên đỉnh trụ đặt đôi nghê chầu mang ý nghĩa kiểm soát tâm linh của khách hành hương trước khi vào lễ thánh. Xung quanh được xây tường bảo vệ.
Từ Nghi môn vào hạng mục đầu tiên ta gặp là bức bình phong xây bằng gạch, vôi vữa với hai trụ hai bên, nhằm chắn các uế tạp vào di tích. Bức bình phong có chiều rộng bằng gian giữa nhà Đại bái đắp theo kiểu cuốn thư, mặt trong đắp nổi hình tượng “long cuốn thuỷ” ở giữa, hai bên đắp hai chữ thọ. Mặt ngoài đắp cỏ cây và ông Hổ. Hai trụ biểu hai bên có tiết diện vuông đắp các đôi câu đối bằng chữ Hán.
Từ bức Bình Phong vào qua một khoảng sân rộng lát gạch bát cổ ta gặp đình Y Sơn được xây dựng theo kiểu chữ nhị (=) gồm hai toà Đại bái và Hậu cung. Trên nóc là cây thượng lương.
Hậu cung đình Y Sơn là ba gian nhà ngang, nhìn từ bên ngoài bờ nóc, bờ chảy đắp bờ đình, hai đầu bờ nóc đắp đấu đinh, tường hồi bít đốc hai mái chảy lợp ngói ri. Vào bên trong tương ứng với ba gian là bốn bộ vì đỡ mái trên mặt bằng bốn hàng chân cột. Các bộ vì đỡ mái hậu cung được làm cùng một kiểu: "kèo kẻ quá giang" đơn giản thiên về độ bền chắc và thông thoáng cho không gian thờ thánh. Trong hậu cung được xây bệ thờ tam cấp.
Cấp trên cùng cao 160cm, rộng 99cm, dài 94cm, là nơi đặt long ngai bài vị.
Cấp thứ hai cao 115cm, rộng 203cm, dài 89cm, là nơi đặt sắc phong, thần phả, giá văn .v.v.
Cấp thứ ba cao 79cm, rộng 203cm, dài 98cm, là nơi đặt bát hương, bộ đài nước và một số đồ thờ khác...
Tóm lại, đình Y Sơn tuy không phải là một ngôi đình lớn và đồ sộ như một số ngôi đình khác, nhưng nơi đây đã hội tụ đầy đủ một kiến trúc cổ truyền thống. Nghệ thuật điêu khắc trên kiến trúc gỗ nổi bật là các bức cốn gỗ chạm nổi 2 mặt hình Long cuốn thuỷ, tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng), hổ phù và cúc dây. Nghệ thuật tạo tác tinh vi, tỉ mỉ phong cách thế kỷ XIX đã góp phần không nhỏ trong kho tàng di sản văn hoá vật thể của quê hương và của tỉnh nhà.



