Dọc theo sông Đáy và sông Tích nhiều nơi nhân dân thờ bà Ả Lã Nàng Đê hoặc Ả Lã nương nương, hoặc Ả Lã nương Đê và em trai là Quốc Công. Nhiều bản thần phả dịch từ nhiều tên như trên song các danh từ vẫn chung 1 người đó là bà Ả Lã một vị tướng tài dưới thời Hai Bà Trưng.
Truyền thuyết kể lại rằng có ông Nguyễn Viên quê ở Châu Ái (nay là vùng Thanh Hóa) ra cổ châu (Vùng Quốc Oai) làm quan chức nhỏ cho nhà Hán. Ông căm thì bọn giặc tàn ác ông ngầm liên kết với các lực lượng để chống lại bọn Tô Định nhưng cũng như Thi Sách (Chồng bà Trưng Trắc) ông bị Tô Định giết hại. Khi ông qua đời đã để lại vợ và 2 con con gái lớn là Ả Lã và người con trai tên là Quốc. Ba mẹ con tần tảo nuôi nhau. Đến tuổi trưởng thành Ả Lã đẹp người đẹp nết và tài giỏi lạ thường. Khi Hai Bà Trưng truyền hịch khởi nghĩa hai chị em Ả Lã chiêu mộ binh lính trong vùng kéo về tụ nghĩa ở sông Hát. Ả Lã được phong là tướng tiên phong lĩnh 1 đạo quân Hai chị em đã lập được công lớn trong công cuộc đánh đuổi quân Hán giải phóng đất nước. Hai Bà Trưng ban thưởng bổng lộc và chức tước cho 2 chị em bà và cho về lập ấp luyện quân ở vùng sông Đáy (Quốc Oai). Tại đây Ả Lã và em trai đã cùng dân trồng dâu chăn tằm cấy lúa chăm lo cuộc sống và luyện tập binh sĩ. Đến khi nhà Hán cho Mã Viện đem quân sang xâm chiếm nước ta 1 lần nữa hai bà Trưng thất trận, Ả Lã và Quốc công đều lần lượt hy sinh anh dũng trên dòng sông Hát. Để tưởng nhớ đến công lao của 2 vị tướng giỏi nhân dân quanh vùng lập đền thờ. Dân làng Yên Lộ đã thờ bà Ả Lã và em trai làm thành hoàng và là vị phúc thần của dân.
Cuộc khởi nghĩa của 2 bà Trưng là kết tinh của cả 1 quá trình đấu tranh khi âm thầm khi công khai đây là 1 phong trào nổi dậy của toàn dân vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do 2 Bà Trưng khởi xướng vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ. Khởi nghĩa đã thắng lợi vì đó là 1 phong trào có tính chất quần chúng rộng rãi. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ đây là 1 sự thức tỉnh của tinh thần Dân tộc đã chống lại mưu đồ thôn tính và đồng hóa của 1 đế chế lớn nhất Châu Á và đang trong thời kỳ hưng thịnh.
Đứng đầu cuộc khởi nghĩa là phụ nữ. Rất vinh quang cho phụ nữ VN mà phẩm chất cao quý tương xứng về câu chuyện truyền thuyết về dòng giống tiên - Rồng. Và ngày nay loài người tiến bộ vì khí phách hiên ngang ấy với chim phượng hoàng bay trên đỉnh núi cao ngất.
Nghiên cứu đình Yên Lộ xã Yên Nghĩa chúng ta thấy ở di tích chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật trang trí điêu khắc, những di vật chứng minh sinh động giúp thế hệ sau hiểu được phần nào khía cạnh lịch sử trình độ nghệ thuật của người xưa.
Căn cứ vào cuốn ngọc phả bằng chữ Hán được lưu trữ tại đình Yên Lộ là hiện vật quý thành văn.
Do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc Nguyên niên (1572) sau này do Bộ lễ Thượng thư phụng sao vào triều vua Vĩnh Hựu thứ II và đến đời vua nhà Nguyễn thừa sao. Như vậy thì từ thế kỷ 16 thôn Yên Lộ đã có đình thờ đương cảnh thành hoàng. Đình hẳn lúc đó còn nhỏ, giá trị về mặt nghệ thuật chưa quy mô như ngày nay.
Đình Yên Lộ được trùng tu lớn vào năm Nhâm Ngọ. Căn cứ vào những di vật cổ còn lại trong đình cho phép chúng ta được biết đình làm quy mô vào đời Vĩnh Khánh II (1730) những di vật còn mang phong cách thời Lê trung hưng đó là bộ long ngai bài vị, bộ đồ thờ (đến đại đao phù điệp và phạt thủ, sắc phong). Các cụ cao niên trong làng cho biết Ngôi đình làng cũ của chúng tôi vẫn nằm ở thế đất này, rằng có từ lâu rất xa xưa, đình làm bằng gỗ, mái thấp cong. Song với thời gian và khí hậu thiên nhiên nhiệt đới gió mùa, mưa nắng thất thường và có nhiều biến thiên của lịch sử nên ngôi đình cổ không còn tồn tại đến ngày nay. Đến năm Nhâm Ngọ (Đời vua Minh Mệnh thứ 3 - Năm 1822 cách chúng ta 169 năm). Đình được nhân dân với tấm lòng ngưỡng mộ và làng xóm quê hương cần thấy phải có nơi hội bàn chốn đình chung nên nhân dân quyên góp tiền của xây dựng trùng tu ngôi đình to lớn khang trang như ngày nay.
Đình khởi dựng thế đất cao hơn so với dân cư, cảnh quan đẹp hướng Tây Nam trông ra một hồ rộng và cảnh bãi màu mỡ xung quanh đình là những cây ăn quả lưu niên xum xuê.
Đình Yên Lộ hiện nay mặt bằng kiến trúc được bố trí theo lối chữ Đinh gồm nhà tả mạc, nhà hữu mạc nhà đại bái và hậu cung. Trước đình là 1 hồ gần như hình bầu dục 1 chiều 90 m, 1 chiều 83 m chiều 63 m, chiều 42 m. Ngang sân đình là nhà tả mạc, nhà hữu mạc chiều dài là 11 m chiều rộng 7 m và cách đình 1,5 m. Nhà tả mạc và hữu mạc được sử dụng vào việc để các đồ thờ tế lễ trước lúc đưa lên Đại bái hoặc dùng để làm cỗ và là nơi họp hành của các phe giáp. Vì kèo của tả mạc và hữu mạc được gối lên tường hậu và tường đầu. Hiện nay tả mạc và hữu mạc xây bít kín cửa để làm kho. Nhà tả mạc trước đây còn là nơi hội họp bí mật của tổ chức Đảng và là nơi hoạt động của các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Lê Trọng Tấn......
Giữa tả mạc và hữu mạc là sân lát gạch vuông nhỏ có chiều dài 28 m và chiều rộng 11 m, giữa có những viên gạch có lỗ tròn dùng để cắm quân kỳ trong những ngày lễ tết.
Đại bái là kiến trúc chính của di tích được kết cấu theo kiểu chữ Đinh có 5 gian và 2 trái, đỉnh đao mái cong, tỷ lệ mái đè 2/3 khoảng cách giữa mặt đất lên mái giọt gianh. Mái đình lợp ngói mũi bên trong có lát ngói chiếu. Sàn đình được lát gạch, lòng thuyền được lát gạch bát vuông 30 x 30 còn 2 bên lát gạch lục. Đại bái rộng 11,50 m dài 28 m. Đại bái cách sân bởi 3 bậc thềm lát gạch và đá tảng với 38 phiến đá to nhỏ khác nhau phiến ngắn nhất dài 46 cm phiến dài nhất 1,37 m, bậc thềm cao 19 cm rộng 30 cm. Tòa đại bái có 48 hàng cột.
Trong đó có 12 cột cái cao 4,72 m chu vi cột 1,36 m cột quân cao 4, 3,85 m chu vi 1,1 m cột hiên cao 1,20 m chu vi 0,80 m chân tảng bằng đá tròn cao 13 cm. Đại bái có bộ vì kèo kết cấu theo kiểu chồng đường giá chiêng có 8 cốn. Xung quanh đình được dựng 1 hàng song vuông dài 60 cm làm cho dáng đình cao lên và thoáng mát. Vì gian giữa kết cấu theo kiểu kết hợp chồng đường giá chiêng. Hai cột cái được liên kết bởi câu đầu trên mặt câu đầu có 4 đầu 2 đầu giữa đỡ 2 cột tạo nên giá chiêng trên cột trốn có 4 đầu đội con giường thứ 2 ở giữa là 1 đầu vuông đôi dép thượng lương là 1 đầu hổ phù liên kết giữa cột cái ra cột quân, cột cái nối với cột quân bằng 1 cốn chồng đường. Mặt cốn quay vào trong có chạm kỹ nối hành tứ linh long ly quy phụng trên cùng là phượng hàm thư, miệng phượng ngậm 1 dải lụa buộc hòm sách có kèm theo 1 bút lông. Đây là 1 con vật linh thiêng tượng trưng cho bầu trời phượng đang trong tư thế đang bay, dưới phượng là rồng cuốn thủy, rồng mũi to, trán gồ trông dữ, rồng có đội sừng như sừng nai đầu rồng là những chải tóc được đục tỉa từng sợi theo hình đuôi nheo bay ra sống lưng là hàng răng cưa rồng trong tư thế động hung dữ lúc hiện lúc ẩn trong mây miệng rồng hút 1 dòng nước dưới là cá chép đằng góc dưới là rùa cõng trên lưng một hòm thư và 1 thanh kiếm trên áp lá sen và được đan sen vào những lớp sóng cuộn. Rùa tượng trưng cho sức mạnh trường tồn. Dưới rùa là con nghê đạp đứng về phía trước, lông là những vân xoắn đỏ là những biểu hiện tự nhiên. Cốn bên trái được thay cho đôi sư tử hí cầu. 4 bức cốn trong lòng thuyền được chạm giống nhau còn mặt sau cốn được chạm tứ quý hóa rồng là thông mai cúc trúc. Riêng cốn trong hậu cung chạm Vua Thuấn đi cày biểu hiện cho sự thanh bình được mùa. Cốn hiên chạm thêm voi đang đứng bên cụm chuối đằng ngoài chạm đôi ngựa đang trong tư thế đùa giỡn Qua bức chạm nổi lên cảnh thanh bình được mùa cầu mong sự no đủ Còn các cốn gian khác thực chất cốn này là các giường cụt xếp lên nhau bởi 6 giường cụt. Giường cụt thứ 1 được gối lên đầu cột quân và nằm trên nách nối cột cái với cột quân đường 2,3,4,5 nằm chồng lên nhau đỡ các hoành mái đường thứ 6 ăn mộng én qua các cột cái đuôi giường chính là nghê đỡ vào dạ câu đầu từ cột quân 1 chiếc kẻ cong chạm hình rồng được kẻ chống vào xà nách đầu kẻ ăn mông én xuyên qua cột hiên thành chiếc bẩy hiên đỡ thành tàu của mái giọt gianh thanh tàu được then tàu giằng vào xà nách nhìn chung ở các cốn này đều chạm nổi hình hoa văn mây cụm tia lửa có dáng dấp như những dấu hỏi chạy đối nhau các bẩy hiên đều chạm nổi hình rồng và cây hóa rồng làm cho các phần gỗ thêm mềm mại đỡ thô kệch hơn.