Lễ hội truyền thống: thực hành nghi lễ và sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng, được thực hiện theo chu kỳ 03 năm/lần tại Đình Yên Nhân. Hội lệ được tổ chức thường niên.
a.Quá trình ra đời, tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể: (Di sản có từ bao giờ?diễn ra trong thời gian nào? ai là người thực hành? Có tổ nghề hoặc nhân vật được thờ liên quan hay không? Nếu có thì thờ ở đâu? Từ bao giờ? Có truyền thuyết, thần phả, sắc phong, v.v. liên quan hay không? Nghi thức/kỹ năng chủ yếu là gì? có những tập tục, hèm, nghi lễ, nghi thức, kiêng kỵ, v.v. liên quan gì nổi bật? Hiện nay việc truyền dạy và thực hành di sản trong cộng đồng được thực hiện thế nào?)
Lễ hội có từ lâu đời, khoảng thế kỷ thứ XVII năm 1884. Lễ hội được tổ chức vào ngày 04, 05, 06 tháng Ba.
Ban tổ chức lễ hội gồm Trưởng thôn, Bí thư, Trưởng Ban công tác mặt trận và các ban ngành đoàn thể trong thôn. Chi hội người cao tuổi và các vị trưởng lão trong làng là những người đóng vai trò chính trong lễ hội.
Đình Yên Nhân thờ các vị Thành hoàng là: Dương Phương Lan, Đỗ Lan Đại vương, Nai Gia Đại vương và thờ bóng Hồ Thông. Trước kia, đình Chung (đình bên dưới đình Yên Nhân) thờ Hồ Thông, nhưng vì đình cũ, xuống cấp nên rước Ngài lên đây để thờ (rước lên khoảng 20 năm).
Đình có 01 quyển thần phả bằng chữ Hán, 16 Đạo sắc phong gồm:
+ Bà Dương Phương La có 08 đạo sắc phong gồm: 01 đạo sắc phong thời Minh Mạng năm thứ 2 (1821); 02 đạo sắc phong thời Thiệu Trị năm thứ 4 (1844); 01 đạo sắc phong thời Tự Đức năm thứ 3 (1849); 01 đạo sắc phong thời Tự Đức năm thứ 33 (1879); 01 đạo sắc phong thời Duy Tân năm thứ 3 (1909); 01 đạo sắc phong thời Khải Định năm thứ 9 (1924).
+ Ông Đỗ Lang có 06 đạo sắc phong: 01 đạo sắc phong thời Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783); 01 đạo sắc phong thời Tự Đức năm thứ 33 (1879); 01 đạo sắc phong thời Đồng Khánh năm thứ 2 (1886); 01 đạo sắc phong thời Duy Tân năm thứ 3 (1909); 01 đạo sắc phong thời Khải Định năm thứ 9 (1924).
+ Ông Mai Gia Minh có 02 đạo sắc phong gồm: 01 đạo sắc phong thời Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783 ); 01 đạo sắc phong thời Khải Định năm thứ 9 (1924).
Các cao tuổi tham gia trong ban tế lễ. Nam (từ 25 đến 30 tuổi), nữ (từ 18 đến 35 tuổi) tham gia vào đội rước kiệu.
Tại lễ hội có một số tục hèm và kiêng kị như sau: Trừ cụ thủ từ ra thì không ai được vào Hậu cung, mọi người chỉ được đứng vái vọng từ ngoài vào, những cụ cao tuổi khác khi có việc cần thiết mới được vào Hậu cung.
b. Miêu tả hình thức biểu hiện, quy trình thực hành, các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể, không gian văn hóa liên quan v.v:
Trước ngày hội, làng cử một cụ cao tuổi nhất là 02 cụ khỏe mạnh, quần áo, khăn mũ chỉnh tề ra đình làm lễ “Mộc dục”. Nước làm lễ là nước mưa, hứng ở giữa trời pha thêm ngũ vị cho thơm.
- Ngày mùng 4 tháng Ba: gọi là “rước niềm”, rước mở đầu để tập duyệt. Rước kiệu từ Bãi Yến lên đình làm lễ tế.
- Ngày mùng 5 tháng Ba: rước kiệu về đình Cống, trưa tiến hành tế lễ. Thánh ngự ở đấy một tối, tối mùng 5/3 tổ chức tế bán dạ.
- Ngày mùng 6/3, rước kiệu từ đình Cống về đình Yên Nhân tiến hành lễ tạ. Buổi chiều, kết thúc lễ hội.
Đồ thờ, đồ rước trong lễ hội: 02 bộ long ngau bài vị, 01 hương án, 02 kiệu bát cồng (thế kỷ thứ XIX), 02 cỗ kiệu song hành (thế kỷ XIX và XVIII), 01 chiêng đồng, 01 lư hương đồng (thế kỷ XIX), 01 đôi lọ lục bình men sứ rạn (thế kỷ XVII), 01 cây nến đồng, 03 mâm đồng, 01 sập thờ.
Lễ vật: thủ lợn, xôi, hoa quả.
Trang phục:
+ Đội tế: ông chủ tế: quần áo, mũ và hia màu đỏ; các thành viên khác thì quần áo màu khác.
+ Kiệu nam: quần trắng, áo the, thắt lưng đỏ, đầu độ khăn xếp.
+ Kiệu nữ: quần đen, áo dài the màu sẫm, thắt lưng xanh.
+ Đội rước gươm trường, bát bửu: áo the, quần trắng, thắt lưng đỏ.
+ Đội rước cờ, gươm: áo dài gụ, quần thâm, thắt lưng đỏ.
Trong ba ngày, 07 xóm trong thôn dâng lễ lên đình, ở đình có 01 đội lễ đón lễ của các xóm.
Lễ hội truyền thống thôn Yên Nhân có tổ chức một số trò chơi như: đánh đu, kéo co, nấu cơm thi, đập niêu…
Ngày xưa, vào những ngày mở đám, lễ hội kéo dài suốt 03 tháng, từ tháng 01 đến hết tháng 3 âm lịch. Sau đó, lễ hội được tổ chức từ mùng 01/3 đến hết mùng 7/3 âm lịch, bây giờ chỉ tổ chức từ ngày 04/3 đến ngày 06/3 âm lịch.
Trước đây, kiệu nữ rước là những cô gái chưa chồng, nhưng bây giờ có cả những người đã có chồng, vì cô gái trẻ bây giờ không quen làm việc nặng.
Trước đây, ở đình Yên Nhân có hát nhà tơ, ở đình Cống có hát chèo, hiện nay không tổ chức hát.
c. Hiện trạng di sản văn hóa phi vật thể:
- Số lượng nghệ nhân hiện có: 15
- Số lượng người thực hành: 50
- Các nguồn lực khác tham gia bảo vệ: 05
- Số lượng bài bản:
- Kỹ năng/kỹ thuật/tập tục:
- Số lượng nghệ nhân hiện còn khả năng truyền dạy: 08
- Số lượng học viên hiện nay:
- Phương thức truyền dạy:
Các nghi thức, quy tắc của hội từ xa xưa đến nay chủ yếu được truyền dạy lại theo cách truyền khẩu trực tiếp từ thế hệ này sang thế hệ sau:
- Thanh niên tham gia vào việc rước kiệu, họ được người đi trước chỉ dạy cho các nguyên tắc, cách thức rước.
- Đội tế hàng năm đều có thêm những thành viên mới dự bị để kế tục. Họ sẽ được những người đi trước chỉ dạy cho các nguyên tắc và cách thức thông qua những buổi tập hoặc quan sát trực tiếp những nghi lễ diễn ra trong hội.
d. Nguy cơ, nguyên nhân mai một của di sản văn hóa phi vật thể:
Lễ hội là truyền thống của dân làng, thể hiện sự gắn kết của 07 xóm trong thôn. Họ mong muốn tổ chức lễ hội để cầu mong bình an, để Thánh phù hộ.