Đình Bình Vọng, thôn Bình Vọng, xã Thường Tín
Giới thiệu
Bình Vọng nằm trên thế đất “quần sơn
la bái”. Một lần cụ Tả Ao, người nổi tiếng về phong thủy đi qua làng đã nói:
“Bình Vọng tựa như vân tán, thế địa linh tất sinh nhân kiệt”. Đầu thế kỷ XV,
Bình Vọng nghĩ ra rượu sen tiến vua, được Nguyễn Trãi ghi trong sách “Dư địa
chí”. Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi: “Chợ Bình Vọng ở huyện Thượng Phúc, là
một chợ lớn trong phủ Thường Tín”. Ca dao cổ có câu: “Xứ Nam nhất chợ Bằng,
Vồi”.
Trong 9 thế kỷ thi cử bằng chữ Hán,
Bình Vọng có nhiều người học rộng đỗ cao. Đó là Trần Lư, đỗ tiến sĩ năm Nhâm
Tuất (1502); Nguyễn Hữu Đăng, đỗ tiến sĩ năm Đinh Mùi (1667); Lê Nguyễn Thường
(Lê Trọng Thường) đỗ tiến sĩ năm Nhâm Thìn (1772); Lê Tông Quang, đỗ tiến sĩ
năm Nhâm Ngọ (1822); Nguyễn Tông (Nguyễn Trữ) đỗ tiến sĩ năm Kỷ Sửu (1829).
Trong những người đỗ đại khoa, nhiều người đã đem tài năng phục vụ cho dân, cho
nước. Tiến sĩ Trần Lư làm quan đến Hiến sát sứ, hai lần đi sứ Trung Quốc đã nắm
được bí truyền của nghề vẽ sơn thếp. Về nước, ông truyền nghề cho dân làng và
nhiều nơi khác. Ngọn bút tài hoa của Trần Lư đã làm cho nhiều đồ vật trở nên có
hồn. Nhiều đền đài, cung điện được trang trí bằng nghệ thuật sơn thếp “rồng như
đang bay, phượng như đang múa” đã trở nên lộng lẫy, uy nghi. Trần Lư mất năm
Canh Tý (1540), thọ 71 tuổi, dân làng nhớ ơn dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ;
hằng năm xuân thu nhị kỳ dân làng hương hoa cúng lễ. Ở phố Nam Ngư (quận Hoàn
Kiếm) hiện còn dấu tích đền thờ ông tổ nghề vẽ sơn.
Về thăm Bình Vọng hôm nay còn được
các “già làng” kể cho nghe nhiều câu chuyện về người và đất Bình Vọng.
Chuyện kể rằng, ngày xưa ở huyện
Tống Sơn, Thanh Hóa, có người họ Đỗ tài năng, mưu lược. Vào thời Lý, giặc giã
nổi lên, ông được lệnh vua đi dẹp. Giặc tan, lúc trở về qua đất Bình Vọng, bỗng
trời nổi trận phong ba, ông một mình một ngựa, tùy thân có một thanh gươm và
ngọn cờ đào rồi hóa. Dân làng lạy tạ và dựng một ngôi đền bằng tranh tre để
thờ. Sau đó, vua Lý trên đường đi đánh giặc Cự Long (Ái Châu) có dừng chân
trước miếu, thấy đại vương hiển linh và xin được âm phù. Quả nhiên mới giao
tranh một trận, giặc đã bị dẹp tan. Khi khải hoàn về kinh, vua nhớ công của
thần đã sai dân xây miếu và lợp ngói, ban biển vàng “Linh ứng điện”.
Đến đời nhà Trần có nàng công chúa
đoan trang, thuần hậu, được vua phong cai quản địa phận Bình Vọng. Tại đây, bà
xin vua miễn tô thuế cho dân. Lại sai đào một con ngòi ở phía nam làng, gọi là
ngòi Nam Lang để tiện cho thuyền bè qua lại. Trong làng có một ngôi chùa cổ, nhà
vua thường đến kêu cầu và rất ứng nghiệm, nhân đấy ban tên gọi là chùa Báo
Quốc. Khi công chúa và vua cha tới thăm chùa, thuyền ngự đi về thường có đám
mây ngũ sắc vờn che. Có vị cao tăng chỉ vào công chúa mà bảo: “Đó là vị thánh
nữ”. Sau khi công chúa mất, dân nhớ ơn, viết sớ tâu xin lập đền phụng thờ, được
sắc ban làm phúc thần, dân cầu xin điều gì thường ứng nghiệm.
Trong cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên lần thứ hai 1285, Bình Vọng nằm trong phòng tuyến chống giặc ở phía Nam
kinh thành. Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật được cử đánh giặc ở Hàm Tử. Trên
đường ra trận, Chiêu Văn cho quân trú tại Bình Vọng. Tại Linh Từ, ông cho làm
lễ cầu đảo. Đêm ấy, ông thấy thần nhân báo mộng: “Tướng quân ra trận lần này ắt
sẽ thắng to”. Quả nhiên, mới qua một trận mà quân Nguyên ở Hàm Tử đã thua tan
tác. Ngay sau khi mất, dân xã nhớ ơn vị tướng văn võ kiêm toàn nên đã lập miếu
thờ. Đền thờ Trần Nhật Duật nằm liền kề đường lớn, bên tòa thành đất của phủ
Thường Tín và cách bến Chương Dương vài cây số.
Đình Bình Vọng là nơi bảo lưu nhiều
di vật quý. Bia “Bình Vọng xã đình bi” tạo năm Vĩnh Tộ thứ ba (1613) ghi rõ 6
điều lệ làng xử người phạm tội trộm cắp, tội nói năng bừa bãi, tội cố ý gây thù
oán với người xung quanh. Bia khắc năm Phúc Thái thứ tư (1646) nêu quy ước của
làng về ruộng đất: “Ai cậy quyền thế lấn chiếm đất công sẽ bị xử tội, ai trốn
chạy thì bắt anh em thay thế và tịch thu ruộng đất hoặc phạt 100 quan tiền”.
Bia tạc năm Khánh Đức thứ hai (1650) kể về bà đồng Nguyễn Thị Ngọc Vĩnh giỏi
tiên tri, được Chúa Trịnh phong tước hầu, lại cấp cho 92 mẫu 3 sào đất. Trước
khi mất, bà đã hiến cho làng số ruộng đó và mua thêm 21 mẫu ruộng tư cho làng
phụng thờ tế tự.
Ngay cạnh đình là ngôi chùa làng có tên Báo Quốc tự. Bia “Trùng tu Báo Quốc tự bi” do Tiến sĩ Nguyễn Đăng soạn năm Hoằng Định thứ 13 (1612) nói rằng chùa Báo Quốc ở xã Bình Vọng là nơi danh lam cổ tích, phong cảnh hữu tình, lâu ngày đã hư hỏng. Các quan viên trong làng đứng ra quyên góp tiền của trùng tu lại thượng điện, nhà thiêu hương, tam quan, dựng bảy gian nhà cầu để tránh mưa nắng khi đi lại. Bia “Bình Vọng tự bi” do Tiến sĩ Nguyễn Tư Hiền soạn năm 1780 còn nói rõ: “Chùa Báo Quốc có từ thời Lý rất là linh thiêng, từng âm phù giúp nước, yên dân”.



