Đình Cù Sơn Trung
Giới thiệu
Đình
Cù Sơn Trung thờ tướng công Phạm Tu – người có công bậc nhất cùng Lý Bí đánh đuổi
quân xâm lược phương Bắc lập nên nhà nước độc lập Vạn Xuân giai đoạn 541 – 545.
Sử sách đã viết về ông:
Cuộc đời trung liệt sớm lừng danh
Muôn dặm biên cương đội phúc lành
Chốn cũ là đây - hồn sông núi
Ngựa Hồ đâu dám hý đồng xanh
(Thoát
Hiên)
Những lời
thơ bất hủ ca ngợi tướng công Phạm Tu không chỉ về tài cao đức sáng mà ngài còn
nổi lên như một trang hào liệt mang khí phách dân tộc. Truyện kể rằng, năm 541,
ông cùng những bậc hào kiệt đánh đuổi bọn thống trị nhà Lương khỏi bờ cõi. Năm
543, khi quân Chiêm Thành đem quân sang xâm lược, chỉ một lần ra quân ông đã dẹp
tan được giặc Chiêm Thành, với công lao to lớn đó vua phong tước hiệu Phục Man
và gả công chúa Lý Nương Phương Dung, sau phong làm Úy tham nghị việc triều đứng
đầu các quan và lấy theo họ vua là Lý Phục Man. Năm 545, nhà Lương tiếp tục đem
8 vạn binh mã sang xâm lược nước ta một lần nữa. Trong cuộc chiến, mặc dù bị
thương nặng nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của một vị tướng trận mạc, một mình
cưỡi ngựa về hậu cứ, vết máu theo chân ngựa chảy suốt một dải 74 làng quê xứ Bắc.
Theo truyền thuyết, đình Cù Sơn Trung xây dựng vào cuối thế kỷ XVII, được tu sửa vào thời Tây Sơn (thế kỷ XVIII), cuối cùng được làm lại thay thế bằng các cột đá vào thời Nguyễn. Hiện tại, đình còn lưu giữ được nhiều dấu tích của các lần xây dựng và tu sửa như những mảng chạm rồng, phượng mang phong cách thời Lê, những bài vị, kiệu thờ được sắm lại vào thời Tây Sơn, những cột đá chạm tứ linh thời Nguyễn. Tổng thể khuôn viên của đình thể hiện quy mô một ngôi đình lớn gồm: cổng đình, sân đình, nhà Đại Bái, đình Trung, đình Thượng và hai dãy nhà tả vu hữu vu, bên cạnh đó có hồ Lão, hồ Chạ nằm phía ngoài.
Cổng
đình dạng trụ hộp hình chữ nhật với những đường nét trang trí truyền thống,
trên đỉnh đắp tứ phụng, phía dưới các ô đắp tứ linh hình nổi, các cặp câu đối
hai bên thân trụ, mỗi bên đều có cổng phụ có mái xếp chồng chiều rộng đủ để một
người dắt xe qua. Nối liền cổng là hệ thống tường rộng bao lơn khuôn viên ngôi
đình. Bước qua cổng đình tiến vào một không gian rộng lớn được lát gạch đỏ tươi
– sân đình, ngoài mục đích sử dụng trong những dịp tế lễ, sân đình còn là không
gian sinh hoạt chung của người dân làng Cù tổ chức hội hè, hội họp từ ngày xưa.
Toà Đại
bái bị mai một trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp nên ngôi đình Trung là
trung tâm kiến trúc của di tích. Ngôi nhà này dàn ngang hình chữ “nhật”, gồm ba
gian hai dĩ, các vì kèo theo kiểu chồng rường, giá chiêng liên kết vì, xà nối đều
là mộng mang cá. Bộ mái được đỡ bởi những hàng chân cột, trong đó có loại cột
vuông và tròn, tất cả đều được làm bằng đá xanh độc đáo. Cột to có chu vi
1,22m, cao 4,5m, cột nhỏ thấp hơn một chút. Bề mặt của những cột vuông được chạm
khắc các đề tài hoa lá và tứ linh, mảng đục chạm khắc trên đá hết sức tinh xảo,
tựa hồ khảm trên gỗ vậy. Trên bốn bức cốn ở gian giữa chạm rồng, phượng, long
mã, rùa và các đề tài dân gian: cá hoá rồng, rồng máy... sau cùng là một bức cốn
lộng lẫy với hình chim phượng giang rộng cánh, trên nền máy nước mênh mang, một
chú rùa được khoác lên mình một chiếc lá sen đang bơi trong dòng nước, tạo nên
cảnh quan sống động. Trong gian đình Trung còn giữ nguyên trạng hệ thống cửa bức
bàn cho cả năm gian, tổng cộng có 22 tấm ván cửa được đánh số thứ tự từ trái
qua phải, ngưỡng của khá cao người ra vào phải nhấc chân bước qua.
Mái
đình lợp ngói vảy hình mũi hài, mái hiên cong tựa mạn thuyền, các đầu đao cong
mô phỏng dáng đuôi thuyền, bên trên đắp tượng lân khảm sành đang phun lửa. Trên
đỉnh mái đình đắp tượng rồng thế “Lưỡng Long Chầu Nguyệt” vô cùng sinh động và
uy nghi. Hình tượng Rồng khá đơn giản, râu cằm thưa nhọn, bờm ngắn tỏa hình quạt.
Thân rồng uốn lượn kéo dài thanh thoát mà mềm mại.
Nhà Đại
Bái dựng trên nền cao trội hẳn hơn sân đình có bậc tam cấp bước lên, tổng thể gồm
năm gian cột đình cao, bộ khung đỡ vững trãi tạo không gian rộng thoáng đãng. Tại
đây lưu giữ thuyền rồng phục vụ cho mùa lễ hội, đi thuyền rồng trên hồ Chạ hát
quan họ, hát mời trầu, một nét văn hóa tinh thần đẹp mà người dân làng Cù còn
lưu truyền. Do những biến cố đem lại, mãi đến năm 2004, bà con gần xa trong và
ngoài làng đã cùng nhau góp công góp của xây dựng lại nhà Đại Bái với dáng vẻ
như xưa.
Đình
Trung nằm phía trong tách biệt với nhà Đại bái bởi một khoảng sân hẹp lát gạch
đỏ, nơi đây trưng bày nhiều đồ thờ cổ có giá trị lịch sử. Với kết cấu ba gian
hai dĩ, gian chính giữa đình Trung đặt ban thờ, bên trên treo bức hoành phi với
dòng chữ: “Trung sĩ danh liệt” (Tạm dịch: Con người cần nhất là phải trung
thành và giữ lấy danh nghĩa bản thân.)
Trên
các trụ cột là các cặp câu đối chữ Nho cổ, bên tả hữu mỗi bên dựng một bộ chấp
kích uy nghiêm, phía xa là đôi hạc gỗ đứng trên lưng rùa hướng mặt vào nhau.
Hai gian kế bên gian chính trưng bày hai bộ kiệu sơn son thiếp vàng cùng một số
đồ tế lễ như trống cái, trống quân, chiêng đồng, cờ hội… Bộ khung giá đỡ kết cấu
chồng giường làm bằng gỗ lim vững chắc, nhiều mảng điêu khắc chạm bong kênh
tranh hình rồng sinh động với những đường nét ấn tượng.
Trong cùng là gian đình Thượng cũng theo kiểu kết cấu tương tự đình Trung với cửa
bức bàn, cột trụ bằng đá xanh, nhưng chỉ có 3 gian hai bên nhà dải 5 gian lợp
mái ngói, cất giữ đôi ngựa gỗ. Chính giữa đặt bệ thờ cùng lư hương, chén, bình
hoa, phía trên có rèm vài che, trong cùng là ngai thờ – nơi đức Thành hoàng
làng ngự. Hiện nay, đình Cù Sơn Trung vẫn giữ được phong tiết anh linh cùng 12
đạo sắc phong qua các triều đại.
Năm
2024, đình Cù Sơn Trung được tu sửa, tôn tạo nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc
truyền thống xưa.
Với một niềm tự hào của miền quê được chứng kiến một thời kỳ oanh liệt của người anh hùng dân tộc, nhân dân làng Cù Sơn Trung đã lập đình tôn thờ ngài là Thành Hoàng Làng. Hằng năm, cứ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch dân làng tổ chức lễ hội, tế lễ tưởng nhớ công đức của Ngài cũng như cầu đảo mưa thuận gió hòa cho một năm làm ăn thuận lợi được mùa.



