Đình Khánh Tân
Giới thiệu
Đình Khánh Tân theo lời kể của các cụ trong làng
đình đã có từ khoảng 1500 năm trước.
Theo
thần tích và truyền thuyết lưu truyền, Đức Trương Đại Vương – Đức Thành Hoàng
làng Khánh Tân – chính là Hoàng Lang Công, vốn là Long thần ngự trên núi Hương
Sơn, nơi có chùa Hương Sơn Tự thuộc trang Khánh Tân. Long thần đầu thai vào
hoàng hậu, sinh ra hoàng tử đời Vua Hùng thứ 16. Ngài chào đời vào mùng 6 tháng
Giêng năm Canh Thìn, lớn lên thông minh, học rộng, khí chất anh hùng. Nhận thấy
tài năng của Hoàng Công, vua cha phong ngài trông coi xứ Phong Châu, chọn trang
Khánh Tân – vùng bến bờ sông con – làm nơi đóng quân và dựng nghiệp.
Trong
thời gian cai quản, ngài dạy dân làm ruộng, gây dựng đời sống no ấm, truyền dạy
lễ nghĩa, thuần phong mỹ tục, được nhân dân hết mực tôn kính. Khi đất nước gặp
giặc ngoại xâm, vua cha giao Hoàng Công làm Tướng quân dẹp giặc. Ngài dùng nhân
nghĩa thuyết phục quân thù quy hàng, sau đó tiến quân về Quế Lâm, tiêu trừ những
thế lực ngoan cố: chém tướng Đình Dũng, bắt sống tướng Lý Đà và diệt 500 quân
giặc, góp phần mang lại thái bình cho xã tắc.
Đất
nước thanh bình, vua mở tiệc khao quân. Đúng lúc này, trời hạn hán kéo dài, vua
giao Hoàng Công lập đàn cầu mưa. Là người thuộc dòng thủy bộ, ngài hô phong
hoán vũ, đem lại những cơn mưa lớn giúp mùa màng tươi tốt, cây trái đơm bông.
Hoàn thành trọng trách, ngài xin trở về chốn cũ. Khi thuyền rồng của ngài theo
dòng sông Cái đến hồ Nhị Sở, bỗng đất trời rung chuyển, gió lớn nổi lên, và
Hoàng Công hóa trong dòng nước. Ngày hóa của ngài là mùng 10 tháng 10 âm lịch.
Hay
tin, vua cha thương tiếc vô hạn, truyền lập miếu thờ tại hồ Nhị Sở và phong hiệu
Đức Trương Đại Vương. Trải qua các triều Đinh – Lý – Trần – Lê, ngài nhiều lần
hiển linh phù trợ chính khí, giúp nước cứu dân trong những thời điểm đất nước
lâm nguy. Các triều đại đều ban sắc phong tôn vinh; hiện tại đình làng Khánh
Tân vẫn lưu giữ 16 đạo sắc phong quý giá. Sắc
phong sớm nhất là vua Cảnh Trị năm 1670 và muộn nhất là thời vua Khải Định năm
1924.
Đình
làng Khánh Tân mang phong cách kiến trúc đình làng Bắc bộ, gồm các hạng mục:
Nghi môn, sân đình, tả hữu mạc, đại bái, hậu cung và các công trình phụ trợ.



